Showing posts with label Làng nghề. Show all posts
Showing posts with label Làng nghề. Show all posts

Monday, 26 May 2014

(BCT) - Cách trung tâm Hà Nội khoảng 15km, làng nghề truyền thống Sơn Đồng (Hoài Đức - Hà Nội) được biết đến là nơi giữ gìn và phát triển những tinh hoa văn hóa trong nghệ thuật điêu khắc của nước ta.

Xã Sơn Đồng có hơn 1.500 hộ dân, hộ nào cũng có ít nhất một người biết chạm khắc gỗ, sơn mài. Cùng với nghề truyền thống là tạc, chạm, khắc và sơn tô tượng để tạo ra những sản phẩm nổi tiếng trong cả nước như tượng Phật bà nghìn tay, nghìn mắt; tượng ông Thiện, ông ác, tượng các vị La Hán, kiệu bát cống, Sơn Đồng còn có những đồ thờ sơn son thếp vàng chẳng nơi nào sánh được.

Nguyên liệu người làng Sơn Đồng dùng để làm đồ thờ tự thường là gỗ mít, dổi và gỗ vàng tâm.

Những loại gỗ này phải tuân theo đúng quy tắc và chuẩn mực nhất định mới được sử dụng, vì vậy, chất lượng sản phẩm nơi đây luôn được đảm bảo, tuổi thọ luôn lâu hơn những sản phẩm của nơi khác. Riêng gỗ làm tượng phải là gỗ mít: Thân cây mít để tạc tượng, cành nấu xôi, lá cây in oản, không ai dám đem gỗ mít ra để làm giường tủ.

Trong gian xưởng đậm chất tâm linh với  hàng loạt pho tượng lớn nhỏ làm bằng gỗ mít, anh Nguyễn Bá Quý - người đã có 30 năm kinh nghiệm thổi hồn cho gỗ khẳng định:  Làm nghề này không cần “mẫu sinh kề”, vì chúng tôi đã được họa tập từ khi còn trứng nước.

Mới vào nghề phải lấy đất sét luyện với mùn cưa, giấy bạc luyện cho  dẻo để đắp pho tượng, khi thật nhuần nhuyễn hình  ảnh các pho tượng trong đầu rồi mới được học tạc tượng trên gỗ. Phải am hiểu nhà Phật mới làm được tượng có hồn. Bây giờ tôi có thể làm một pho tượng  không cần ảnh, cứ nghĩ trong đầu rồi làm ra thôi”.

Cũng theo anh Quý - thế hệ trẻ bây giờ học nghề có điều kiện thuận lợi hơn nhưng cũng mất 2 năm để thuần thục tay  đục và mất nhiều năm nữa để ngấm vào mình những hồn cốt của tượng phật. Đồ thờ phải đủ ngũ hành: kim - mộc - thủy - hỏa - thổ. Trong đó, kim là yểm vàng trong tượng, mộc là gỗ, thủy là đánh bằng nước cho đẹp, hỏa là dùng đèn khò trong công đoạn chế tác, trước khi hoàn thiện một pho tượng, nghệ nhân phải dùng đất để trát vào, “phi thổ bất thành tượng” là vậy.

Anh Quý cho biết: “ở đâu không biết chứ riêng Sơn Đồng vẫn lưu giữ nghề tạc tượng thủ công, chỉ như thế mới đưa cái tâm của người thợ vào bức tượng. “Mắt chưa nhìn thấy vật nhưng thần tự tay người mà ra” - một câu khái quát nhưng nói lên cái tâm và cái tài của những nghệ nhân làng Sơn Đồng.

Theo Việt Anh (Báo Công Thương)
Du lịch, GO!

Friday, 23 May 2014

(ANTĐ) - Đường lên đỉnh Chông Páo Mùa uốn lượn qua  những nương chè. Những cội trà San Tuyết cổ thụ ngả bóng xuống khoảng đất rộng quanh gốc xù xì, nơi những đứa trẻ người Mông vịn cành, đu nhánh nô đùa hồn nhiên như sắc hoa chè đã mấy trăm năm vẫn trắng một màu thuần khiết.

Tôi đến Suối Trời, bản Suối Giàng, Văn Chấn, Yên Bái khi sắc hoa chè San Tuyết cổ thụ nở trắng từng thửa ruộng bậc thang. Cuối xuân đầu hạ nên sương mù lẫn vào mây bay phủ kín núi non, làng bản. Đường lên đỉnh Chông Páo Mùa như dải lụa nhỏ vắt ngang lưng trời, chông chênh, mơ ảo xuyên qua màn sương lên đến đỉnh trời.

< Bản Suối Trời nằm giữa lưng chừng núi.

Bản Suối Trời nằm ở cao độ gần 1.400m nên quanh năm chìm trong sương mây. Những mái nhà của người Mông lợp bằng gỗ Pơmu phủ lên mình lớp rêu phong năm tháng và một màu xanh xám, mốc meo. Bãi đất trống trước bản cũng là khoảng sân chơi của điểm trường tiểu học cắm bản chỉ với hai phòng học nhỏ. Những đứa trẻ đang giờ giải lao từng tốp, từng tốp nô đùa. Lẫn trong tiếng cười con trẻ, hương chè cổ thụ nao nao thoảng một mùi riêng chỉ có ở Suối Trời.

Ở ngang trời, Suối Trời quanh năm se lạnh, không khí lúc giữa trưa vẫn còn đượm hơi sương. Người xứ Suối Trời bảo rằng nơi đây quanh năm mây phủ, khó có ngày trời đất đều khô. Có lẽ cũng bởi vậy mà cây chè nơi đây lúc nào cũng tươi non ngậm đẫm hơi sương. Nếu trời quang mây, đứng ở Suối Trời có thể thấy rõ thị trấn Văn Chấn nhỏ bé, tĩnh lặng bên Quốc lộ 32 lượn thẳng lên phía Bắc, nơi thung lũng Mường Lò nối những cánh đồng lúa rộng lớn liền trời, liền núi. Nhìn về phía xa ngang tầm mắt sẽ thấy con đường nối từ Quốc lộ 32 đi Làng Nhì, Phình Hồ, Bản Mù, Háng Tề Chơ… chỉ như một nét bút mảnh mai trên tấm toan xanh lúc mờ, lúc tỏ.

Những cây chè San Tuyết cổ thụ ở Suối Trời còn đến ngày nay đều đã có 300-400 năm tuổi, hấp thụ tinh túy của đất trời thêm xanh tươi. Nói đến cây chè, người già ở bản Suối Trời kể lại rằng: “Hơn 500 năm trước, trên đỉnh Suối Trời xuất hiện 2 vị đạo sĩ đến đây đánh cờ. Hai ông say mê chơi cờ suốt mấy ngày liền, mặc cho trời giá rét. Thấy vậy, một cô gái trong bản đã cất công đi hái những búp non chè mọc trên đỉnh núi, pha trà mời các ông uống giải khát. Vị trà quá ngon, càng uống, càng thấy tinh thần minh mẫn, ngồi chơi cờ suốt mấy ngày liền cũng không thấy mệt.
Cô gái cho hai vị tiên biết, do cô nấu trà bằng nước suối Tập Lang tinh khiết từ trong lòng núi đá, trên đỉnh Chông Páo Mùa, còn lá trà được hấp thụ khí trời thuần khiết của mây mù gió núi, tạo nên hương vị độc đáo.


< Hết giờ học, đám trẻ con lại đánh đu trên những gốc chè cổ thụ.

Từ đó, hai vị đạo sĩ thường xuyên lên đỉnh Suối Giàng chơi cờ và thưởng thức hương vị khó quên của chè Suối Giàng.

Lên đỉnh Suối Trời, dừng lại bên ngôi nhà sàn đầu bản, cùng thưởng thức vị chè San Tuyết trong không gian yên tĩnh, chỉ có hương trà quyện vào hương núi hương mây, ngắm nhìn những dáng váy Mông nặng bước gùi trà lên dốc, nhìn những đứa trẻ hồn nhiên vịn cành chè cổ thụ nô đùa sẽ thấy không thể nào quên một hương vị, một địa danh mang tên Suối Trời ở giữa lưng trời.

Theo Vũ Thanh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Monday, 12 May 2014

(BCT) - Đồng bằng sông Cửu Long có hai địa phương nổi tiếng với nghề trồng khóm. Đó là Cầu Đúc (Hậu Giang) và Bến Lức (Long An).

Bến Lức là một huyện thuộc tỉnh Long An, cách TP Tân An (Long An) 15km và cách TP.HCM 30km, là cửa ngõ phía bắc của miền Tây Nam Bộ. Đi dài theo Quốc lộ 1 địa phương nầy, bất cứ lúc nào, khách cũng bắt gặp bên đường nhiều điểm bán khóm. Những trái khóm mắc vào khung hình vuông vàng ươm đẹp mắt, quyến chân khách dừng lại ghé mua. Và ai cũng tấm tắc ngợi khen hương vị độc đáo của sản vật địa phương nầy.

Khóm Bến Lức thịt vàng, gọt bỏ vỏ và xây bỏ mắt, ta sẽ có một thức uống giải khát tuyệt hảo trong những ngày nắng gay gắt lửa. Cắn một miếng, ta sẽ cảm nhận cái giòn nhẹ, sau đó là vị ngọt thanh điểm xuyết chút chua nhẹ thoang thoảng dễ chịu cùng mùi thơm không phân tích được của khóm. Tất cả khiến khứu giác, vị giác, thính giác và xúc giác ta hoàn toàn thỏa mãn.

Khóm Bến Lức khi pha chế thành món ăn cũng để lại ấn tượng nhớ đời. Những món khóm xào phèo heo, xào gan heo, xào thịt bò,... đều ngon hấp dẫn. Khóm nấu canh chua cá lóc với đậu bắp, giá sống, bạc hà, cà chua... làm tôn thêm sức quyến rũ của món canh nổi tiếng Nam Bộ.

Cùng với một vài rau cải, tàu hủ, khóm còn được làm thành món chay khiến bữa cơm thêm phần thú vị. Hòa cùng bao mùi vị khác, mùi vị đặc trưng của khóm như bật lên nét duyên êm ả. Người ta còn cho khóm vào máy xay sinh tố hoặc ép lấy nước cốt, để trong tủ lạnh đều là thức uống lạnh ngọt khó quên sau bữa cơm.

Trong Đông y, khóm tính bình, giúp tiêu hóa, chống viêm, tẩy độc. Để chữa sỏi thận, người ta dùng nước ép của khóm nướng cháy vỏ trộn với trứng gà, đánh nhuyễn hoặc dùng khóm xắt miếng nấu nhừ với phèn chua vừa ăn cái vừa uống nước. Khóm gọt bỏ vỏ, bỏ mắt, ép lấy nước uống nhiều lần trong ngày có tác dụng nhuận trường. Người ta còn cho rằng ăn khóm hằng ngày giúp hạ huyết áp, có lợi cho tim mạch, phòng ngừa tai biến...

Theo Phương Kiều (báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Sunday, 4 May 2014

(TPO) - Từ độ cao bảng lảng mây của đèo Pha Đin xuôi xuống dần, chạm vào mắt tôi màu xanh bát ngát của cánh đồng Mường Thanh chạy dọc bờ sông Nậm Rốm xòe ra như cánh hoa ban ôm lấy thành phố Điện Biên.

Câu truyền khẩu: “nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” đã xếp Mường Thanh lớn nhất xứ Tây Bắc, so với những Mường Lò - Yên Bái, Mường Than - Lai Châu, Mường Tấc - Sơn La. Chẳng ngờ ở nơi núi non trùng điệp lại có một lòng chảo ôm trọn cánh đồng bằng phẳng rộng tới 5.000 ha, ở độ cao 400m so với mặt nước biển. Tận thấy cánh đồng khổng lồ này, tôi giật mình bởi nơi đây không chỉ có lúa, xác xe tăng, hầm Đờ Cát.

Lúa thơm bên xác xe tăng

Trong sách “Kiến văn tiểu lục”, nhà bác học Lê Quý Đôn đã giới thiệu về cánh đồng Mường Thanh - đọc chệch từ Mường Then (cõi trời) rằng: “Thế núi vòng quanh, ruộng đất bằng phẳng, màu mỡ... công việc làm ruộng bằng nửa công việc các châu khác mà số hoa lợi thu hoạch gấp đôi...”.

Vào một sáng nắng chói của tháng Tư, cánh đồng Mường Thanh thu hút tôi không chỉ bằng màu xanh non của lúa đang thì con gái mà bởi màu áo đặc trưng của những người nông dân dân tộc Thái đang làm ruộng. Ông Lò Văn Ban dừng tay cào cỏ, trò chuyện với tôi: “Lúa năm nay tốt, chắc được mùa to, gạo này ngon lắm, đặc sản của Điện Biên đó”.

Ông Ban khum bàn tay lại như vo tròn nắm gạo trong tay, cười bảo: “Nếu vốc gạo được gặt từ ruộng này thì hạt gạo sẽ chảy qua từng kẽ ngón tay, gạo tám Điện Biên có đặc điểm rất riêng: hạt nhỏ, màu đục không trắng như gạo tám thường. Hạt gạo dài đều tăm tắp, căng bóng và thơm đến lạ.

Cơm gạo Điện Biên dẻo như cơm nếp, thơm thoang thoảng, khi nhai có vị đậm, nhiều nhựa nên thường dính răng… Từ khi còn là hạt gạo, gạo tám Điện Biên đã mang trong mình mùi hương thoang thoảng. Gạo thơm dẻo nên bà con làm cơm lam, làm khẩu cắm. Chắc chú chưa biết khấu cắm đồ là gì nhỉ?

Cái đó như đồ xôi với lá cẩm, khiến vị xôi ngậy, dẻo thơm, ngon miệng; hay làm khẩu háng (đồ thóc rồi đem phơi khô, xát vỏ rồi đồ chín), khẩu papa (tựa như dưới xuôi làm bánh nếp)”.

Điều gì đã làm nên hạt gạo của cánh đồng Mường Thanh có vị thơm ngon đặc biệt như vậy? Ông Ban lý giải: “Hạt gạo quý là do dinh dưỡng màu mỡ của rừng già, núi cao khắp nơi chảy vào thung lũng. Nhờ tinh túy đất trời hội tụ trong từng thớ đất. Nhờ dòng nước màu mỡ từ sông Nậm đắp bồi”.

Tiết trời Hà Nội đang âm u nhưng lên Điện Biên giữa tháng Tư nắng đã vàng rực chói chang. Chính ánh nắng đang làm lóa mắt tôi đây cũng giúp cho hạt gạo Mường Thanh trở nên đặc biệt. Cường độ chiếu sáng của mặt trời rất lớn, cộng với biên độ nhiệt chênh lệch khá lớn giữa ngày và đêm (khoảng 10 độ) giúp cho cây lúa sinh trưởng tốt.

Và nữa cánh đồng Mường Thanh đã ngấm đất biết bao xương máu của chiến sỹ Điện Biên năm xưa. Năm xưa, công sự chiến hào, từng bước tiến của bộ đội đến hầm Đờ Cát phải trả giá bằng máu. Máu nhuộm đỏ nhiều thảm lúa xanh. Và cũng chính những hạt lúa trên cánh đồng này, cách đây 60 năm đã nuôi đội quân “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt”, làm nên trận Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu.

Nhìn ra xung quanh bỗng cảm nhận chẳng ở đâu mà một cánh đồng lại ôm chứa trong lòng nó nhiều di tích và ký ức lịch sử đến vậy. Những hầm chỉ huy tướng Đờ Cát, Sân bay Mường thanh, Cứ điểm Him Lam, Bản Kéo, đồi Độc Lập, đồi A1, C1, C2, D1... Lúa vẫn mọc xanh rờn bên xác xe tăng.

Nghĩa trang và mùa vàng

Sau chiến thắng Điện Biên, cây thuốc phiện vẫn được trồng trên cánh đồng này nhiều đến mức đã có câu thơ “Hoa anh túc tím đôi bờ Nậm Rốm”.

Cuộc chiến phá bỏ hoa anh túc là cả một kỳ tích vì những kẻ buôn bán thuốc phiện phao tin rằng hạt gạo thơm ngon vì có hương hoa anh túc tỏa lên bông lúa. Không có cây anh túc thì cây lúa Mường Thanh không đơm hoa kết bông được, dẫu có ra bông thì cũng chẳng còn thơm ngon.
Nhưng cũng chính những người vừa rời tay súng đã một nắng hai sương với cánh đồng Mường Thanh, bằng mồ hôi của mình đã chứng minh: chính chất đất, khí núi, hương rừng Mường Thanh và nước dòng Nậm Rốm từ ngàn xưa đã chắt chiu tinh chất để cây lúa vụ nào cũng trổ bông trĩu hạt. Và từ đó Mường Thanh đã sạch bóng ả phù dung.

Ông Lò Văn Ban vẫn nhớ, sau chiến thắng Điện Biên, cánh đồng Mường Thanh lởm chởm dây thép gai và hố bom, mìn và đạn chưa nổ. Thời kỳ đó cánh đồng “Nhất Thanh” này chỉ cấy được một năm một vụ lúa vì không có nguồn nước tưới và năng suất rất thấp. Cả tỉnh phải phụ thuộc vào nguồn trợ cấp lương thực từ Trung ương.

Lang thang trên cánh đồng Mường Thanh, trò chuyện với những người nông dân, tôi mới biết ở đây cũng đã có một chiến thắng khác đầy bi tráng mà dấu ấn của nó vẫn trên từng thửa ruộng của lòng chảo khổng lồ này. Đó chính là công trình Đại thủy nông Nậm Rốm do 2.000 TNXP từ Hà Nội, Thái Bình, Nghệ An... tình nguyện lên đây xây đắp.

Ông Trần Công Chính - Trưởng ban liên lạc TNXP Nậm Rốm - nhớ lại: “Hồi ấy cuộc sống hằng ngày liên tục bị ảnh hưởng bom đạn bắn phá của kẻ địch, những TNXP cơm không đủ ăn, nước không đủ uống, lương thực chủ yếu là ngô răng ngựa luộc cả hạt. Đã thế điều kiện khí hậu khắc nghiệt với ruồi vàng, bọ chó, gió Tây Trang; doanh trại phải sơ tán vào rừng tránh máy bay địch; ngày vào rừng sơ tán, ban đêm lại ra đào đắp, đổ bê tông xây dựng công trình đại thủy nông Nậm Rốm.
Khó khăn là vậy, ấy thế mà các anh, các chị cứ vác vượt trọng lượng cơ thể thực hiện khẩu hiện “ba bù”: bù mưa, bù ốm, bù phòng không đảm bảo giờ làm việc 10 giờ đến 12 giờ”.

Ngày ấy, Trần Công Chính là “kiện tướng” gánh đất công trường Nậm Rốm, một mình, mỗi chuyến gánh từ 70 kg đến 1 tạ đất, xi-măng. Ước mơ giản dị của chàng thanh niên Hưng Yên 18 tuổi khi đó là có cái đòn gánh đủ khỏe để gánh không bị gãy. Gánh khỏe đến mức thành tên, người ta gọi ông là Chính “trâu”.

Sức vóc, nhiệt tình phơi phới của những chàng trai cô gái ấy đã làm nên các công trình bê tông cốt thép vĩ đại như đập dâng nước đại thuỷ nông Nậm Rốm, hệ thống cầu, máng nối liền với hơn 30km kênh cấp I chạy dài uốn cong ôm theo sườn núi như những con rồng khổng lồ.

Ngày dẫn nước, thấy dòng nước trắng xóa ào về, nhiều TNXP không cầm được nước mắt. Từ nay số phận của cánh đồng Mường Thanh đã lật sang trang mới, kéo theo sự đổi đời của hàng vạn gia đình nông dân.

Từ một vụ lúa sản lượng thấp, khi có công trình đại thuỷ nông năng suất lúa 2 vụ của cánh đồng Mường Thanh Điện Biên Phủ hiện nay đã lên hơn 10 tấn/ha. Diện tích ruộng được khai hoang tăng lên không ngừng từ 2.000 ha lên tới 5.000 ha.

Ít ai biết rằng, ở thành phố Điện Biên, có một nghĩa trang nhỏ nằm khuất sau nhiều ngôi nhà mới xây - nơi an nghỉ của 18 TNXP đã hy sinh trên công trường Nậm Rốm. Chỉ 2 ngôi mộ có tên. Trong đó có chị Phạm Thị Ngọ, người con gái quê chính gốc Hà Nội. Chị Ngọ hy sinh vào một ngày cuối tháng 12/1963 khi cùng một thanh niên trong tổ, khoan đá nổ mìn thi công đập chính công trình. Mũi choòng của họ chạm phải một quả mìn sót lại của ca phá đá hôm trước và phát nổ. Chị Ngọ được an táng dưới gốc đa trên quả đồi ngay gần công trường. Quả đồi đó được những TNXP ngày ấy đặt tên là đồi cô Ngọ.

“Đất Điện Biên dính người phải biết”

Ông Trần Công Chính vẫn thường lên đồi cô Ngọ. Từ đây có thể nhìn rõ cánh đồng Mường Thanh. Ông Chính chọn Điện Biên làm nơi lập nghiệp sau khi đại thủy nông Nậm Rốm hoàn thành. Lúc ấy, nơi đây vẫn đầy hố bom và những hàng rào thép gai, cây dại lan tràn khắp cả vùng Mường Thanh rộng lớn.

Ông Chính cùng nhiều cựu chiến binh vừa rời tay súng trong trận Điện Biên, lấp hố bom, lấp hào công sự mà họ đã từng đào, tạo dựng cuộc sống trên vùng đất mới. Họ canh tác trên cánh đồng Mường Thanh vẫn còn xương cốt và bom mìn. Lúa, ngô, khoai, lạc, mùa nào thức ấy.

Rất nhiều “Mùa lạc” (tên một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Khải viết về những người ở xây dựng kinh tế mới ở Điện Biên) đã trôi qua, Ông Chính cảm nhận rõ “cuộc sống vĩ đại đã trở lại rồi” (Mùa lạc). Suốt đời ông Chính mong mỏi nhất là được có bằng đại học, nhưng không thành.

Trần Ðức Nghĩa - con trai ông- tốt nghiệp đại học, từ bỏ công việc tốt đã được sắp xếp tại Hà Nội, về với Ðiện Biên, và trở thành bác sĩ đầu ngành khoa Mắt hiện nay, hiện giờ là Phó Giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh. Tám người con, dâu, rể, có bốn thạc sĩ, con cả sắp làm xong nghiên cứu sinh.

Tất cả đều quyết ở lại Ðiện Biên. “Đất Điện Biên dính người phải biết”, Ông Chính nhìn ra cánh đồng Mường Thanh, nhắc lại một câu trong truyện ngắn “Mùa lạc”.

Tôi lang thang trên cánh đồng Mường Thanh khi mà dòng người đổ về nhân dịp 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ ngày một đông. Qua một vòng hoa giáp, cánh đồng Mường Thanh thay da đổi thịt đến diệu kỳ.

Tôi ngỡ ngàng khi được bà Cao Thị Tuyết Lan - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Điện Biên cho hay: 80% diện tích lúa trên cánh đồng Mường Thanh nông dân đầu tư sản xuất bằng máy nông nghiệp… Hình ảnh người nông dân dân tộc Thái lái máy cày, điều khiển máy gieo hạt đã trở nên quen thuộc.

Bà Tuyết Lan đưa cho tôi một bản báo cáo về sản xuất nông nghiệp tỉnh Điện Biên năm 2013, trong đó từ chỗ một tỉnh thiếu đói, giờ đây mảnh đất của chiến tranh năm xưa đã đạt gần 500 kg lương thực/người/năm. Cánh đồng Mường Thanh góp phần lớn vào con số ấn tượng ấy. Hạt gạo tám Điện Biên không chỉ trở thành quà tặng của những du khách đến đây, mà còn là mặt hàng “hot” chẳng đủ cung cấp cho người dưới xuôi.

Rồi đây, khi hạt gạo Mường Thanh trở thành thương hiệu trên mỗi bao gạo bán đi khắp mọi miền Tổ quốc và thế giới, có dòng chữ: “Gạo Điện Biên - cánh đồng Mường Thanh” - chỉ riêng từng ấy thôi, đã nói lên rất nhiều điều...

Theo Phùng Nguyên (báo Tiền Phong)
Du lịch, GO!

Saturday, 3 May 2014

(THTB) - Đến với làng Quảng Nạp – xã Thụy Trình, huyện Thái Thụy, du khách có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh các bà, các chị, hay cả các em nhỏ đang ngồi túm năm tụm ba giữa gian nhà ngồi khâu nón lá, tay thoăn thoắt nhưng miệng cười nói vui vẻ, lưu lại trong chúng ta một ấn tượng khó phai. Nghề đan nón lá của làng Quảng Nạp đã được lưu truyền từ bao đời - cũ mà mới, truyền thống mà hiện đại.

Để có được chiếc nón lá bền đẹp, đòi hỏi người làm nón phải có sự khéo léo của đôi bàn tay và có óc thẩm mỹ cao. Sau khi mua lá nón về, người thợ phơi nắng, sau đó hấp sinh diêm để lá có độ trắng đẹp và không bị mốc khi gặp trời mưa. Xong công đoạn đó thì người thợ đặt từng chiếc lá trên lưỡi cầy nung nóng sau đó dùng giẻ vuốt đều trên mặt bằng làm cho lá phẳng ra, rồi xếp lên khuôn làm hai lớp lá trong và ngoài, giữa hai lớp lá là một lớp mo nang mỏng được lấy từ mo tre và buộc lại cho chắc chắn trên khung nón.

Tiếp theo là tới công đoạn khâu. Đôi bàn tay khéo léo, thoăn thoắt luồn mũi kim lên xuống đều đặn sao cho lỗ khâu thật nhỏ và khít đều đi từ đỉnh nón qua các vòng xuống vành ngoài cùng. Người thợ khéo tay khi khâu nón thường là người có tài khâu lấn chỉ và khéo léo giấu những nốt nối vào trong lòng chiếc nón lá. Bên trong chiếc nón thường được trang trí thêm những họa tiết, màu sắc của sợi chỉ khâu tạo thành nhôi nón làm cho chiếc nón lá trở nên sinh động và phong phú hơn. Chiếc quai nón vừa để giữ chiếc nón, vừa để điểm tô cho người đội thêm duyên dáng, thêm sang trọng và quí phái theo cái nhìn thẩm mỹ hiện đại. Trước khi sử dụng nón lá họ thường quang một lớp dầu và đem ra phơi nắng vài giờ đồng hồ để làm bóng nón lá và làm tăng sức bền với thời gian cho sản phẩm này.

Hiện nay, thôn Quảng Nạp  có 384 hộ gia đình làm nón lá chiếm gần 20%  tổng số các hộ gia đình trong toàn xã. Làng nghề làm nón lá truyền thống phát triển, đời sống nhân dân trong làng Quảng Nạp được nâng cao, góp phần cải thiện mức sống của người dân nơi đây. Nhiều hộ gia đình làm nghề nón lá đã xây dựng được nhà cao tầng, đường làng, ngõ xóm sạch sẽ, các công trình phúc lợi công cộng được xây dựng khang trang và hiện đại. Như gia đình nhà bà Nguyễn Thị Huê thôn Bắc Quảng Nạp là một trong những hộ làm nón lá có tiếng cả về số lượng và chất lượng sản phẩm. Trung bình một ngày, mỗi người lao động sẽ làm ra một chiếc nón với mức giá bán ra thị trường từ 60 – 70 nghìn đồng, trừ  chi phí, nguyên liệu khoảng từ 15 – 20 nghìn đồng, thì công lao động một ngày là từ 40 – 50 nghìn đồng. Tổng thu nhập bình quân của tháng là 1.200.000 – 1.500.000 đồng/ 1 người lao động, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho các gia đình, làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới.

Đất nước ta đang bước và thời kỳ đổi mới và hội nhập, nhiều mốt thời trang hiện đại xuất hiện; có cả trăm nghìn loại nón, mũ khác nhau, đa dạng về màu sắc, kiểu dáng nhưng hình ảnh chiếc nón lá làng Quảng vẫn gần gũi với mọi người, đặc biệt là với các thiếu nữ nông thôn. Rộng hơn, trong những ca khúc, vũ điệu và trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam; trong con mắt của bạn bè thế giới thì chiếc nón lá là hình ảnh đặc trưng cho trang phục truyền thống và sự duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam mềm mại, bình dị, bình dị mà kiêu sa.

Theo Đỗ Thị Xuân (web Thái Thụy - Thái Bình)
Du lịch, GO!

Thursday, 1 May 2014

(DVO) - Từ lâu, người dân Quảng Nam khi chế biến các món ăn truyền thống như: bánh tổ, bánh nổ, bánh in, xôi ngọt, chè bắp đến xoa xoa… thường dùng đến đường bát - một sản phẩm đã làm nên cốt cách của người xứ Quảng quê tôi.

Đường bát - một sản phẩm truyền thống làm từ cây mía ở Quảng Nam. Theo Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục: “Đường phổi sản xuất ở phủ Điện Bàn xốp nhẹ mềm trắng, một phiến nặng một cân. Họ Nguyễn thường sai ký lục Quảng Nam mua ở châu Xuân Đài và xã Đồng Thẩm, có kỳ 300 cân, có kỳ 800 cân để cúng kỵ chạp, phát mỗi cân 24 đồng. Không có thuế. Hai châu và xã ấy có thể làm đường phèn, đường cát, mỗi năm nộp các thứ đường ấy cộng 48.320 cân thay tiền sai dư”.

Ở vùng quê Quảng Nam, từ miền đồng bằng lên trung du hay trải dọc theo hai con sông Vu Gia và Thu bồn đất phù sa màu mỡ là nơi thích nghi với nhiều loại cây trồng trong đó có cây mía. Khi những bông mía bắt đầu tàn, những cơn gió lạnh ngày càng nhạt dần là mùa đạp mía, nấu đường bắt đầu. Người Quảng Nam quê tôi gọi là mùa làm đường. Đây là mùa bận rộn nhất của người nông dân các vùng trồng mía.

Để mùa làm đường diễn ra suôn sẻ, theo truyền thống, người Quảng Nam thường chọn một ngày tốt để gọi là cúng khai trương lò. Chủ lò đường làm thịt con gà trống tơ chưa đạp mái và nấu một nồi xôi nếp hương chừng 4 lon gạo (khoảng hơn 1 kg) đem ra chòi.

Chủ lò thắp nén hương thành tâm khấn xin các Ông che phù hộ cho một mùa đường bình an, thắng lợi. Cùng lúc, các nông dân trai tráng trong xóm tụ tập tại lò đường, trịnh trọng khiêng các Ông che ra rửa lại, đặt nằm ngay ngắn giữa chòi. Các ông che được làm bằng gỗ mít hay từ gỗ của cây cốc chắc, dẻo. Các ông che được nối với một càng do các đôi bò kéo xoay quanh nhau.

Bộ che ép mía bằng gỗ gồm: có ba ống (một ống cái có đường kính từ 45 đến 50 cm) và hai ống con (mỗi ống có đường kính từ 35 đến 40 cm) xung quanh thân trên của mỗi ống có đục nhông dạng răng cưa và cả ba ống này luôn ăn khớp với nhau. Phía dưới của bộ che có mộng để giữ cố định khi các ống che khi quay và toàn bộ bộ che mía có thể dài từ 2m đến 2,5m và cao khoảng 1m.

Lễ cúng với rượu gạo, thịt gà, xôi nếp là việc thông qua kế hoạch mùa đường. Đầu tiên là việc đăng ký đạp mía lần thứ nhất cho từng hộ gia đình trong xóm, làng vì phải đạp cho mỗi nhà một ít trước đã, để mọi người ai cũng có được sản phẩm đường bát mà bán nhằm trang trải các khoản nợ nần nhất là dịp Tết đến, sau đó mới làm đại trà.

Lễ cúng ngày đầu tiên xong đâu đó, là việc đắp đất làm lò đường. Lò đường được thiết kế âm vào lòng đất khoản một phần tư nhằm tận dụng hết nhiệt độ tại lò. Trên lò bắt hai chảo lớn bằng gang (mỗi chảo khoảng 100 lít nước). Cánh phụ nữ được phân công chặt ngọn mía, dọn lá mía. Cánh đàn ông đốn mía và bó thành từng bó chuyển về lò.

Khi lượng mía đốn xong đủ để đạp thì che mới bắt đầu hoạt động. Ba bốn phụ nữ ngồi đưa mía vào khoảng giữa các ông che để ép (gọi là cho che ăn). Khi lượng nước mía đủ cho hai chảo, việc nấu đường mới bắt đầu. Đây là khâu quan trọng nhất đòi hỏi trình độ của người thợ nấu đường để có được những bát đường chất lượng, đẹp mắt.

Công đoạn nấu đường trải qua các bước: Nước mía được đổ vào chảo nấu cho tới đường gọi là chè hai, chè ba. Lúc thành đường là khi chè đã chuyển từ màu trắng sang màu vàng và lúc này khắp xóm dậy lên mùi đường non, thứ mùi thơm của đường khó diễn tả bằng lời.

Theo kinh nghiệm, quá trình nấu đường như vậy đòi hỏi người thợ lò phải chín tay nghề. Trong đó có cách cho vôi vào đường và nhồi đường. Đường già hay non vôi sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và giá thành bát đường (sản phẩm). Đường sau đó được múc vào thùng. Người thợ lò bắt đầu tinh luyện từ cây gỗ bìn lin chắt và nặng. Họ sử dụng chiếc đũa đường đánh cho đường tới nước. Gọi là đũa nhưng thực sự là hai thanh gỗ dẹp có bề dài khoảng nửa mét, ngang một tấc.

Khi đường tới nước (đúng độ), với một sự tỉ mỉ và cần mẫn, người thợ rót vào chén được sắp thành từng dãy dài làm ba cơi (ba lần). Cơi đầu đường đầy 2/3 chén. Rót một vòng hết dãy chén, chờ cho đường hơi cứng lại rồi mới rót cơi hai thành một cục u, đến cơi ba thì cục u mới hoàn chỉnh và cục u này sẽ là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá đường đẹp hay xấu. Một tán đường bát mà không có cục u thì không thành tán đường, bởi cái duyên của tán đường nằm ở đó.

Đường thành phẩm được thương lái đến mua ngay tại lò. Người Quảng Nam khi tính đơn vị đường bát (tán) là cặp. Theo đó, cứ hai bát thành cặp. Cứ 30 cặp đường thành một bầu. Cứ 4 bầu gọi là một giỏ. Mỗi bầu người ta thường thêm một tán, gọi là tán đường kèm vừa để đề phòng vận chuyển bị bể nát vừa mang ý nghĩa thêm một tí để làm phước theo kiểu của Quảng Nam.

Thường lệ, dù làm mía nhiều hay ít khi ép mía nhà nào cũng dành lại vài bầu để ăn dần khi mùa gặp hái nấu chè, nấu cháo đường hoặc dùng vào giỗ chạp, tết đến. Để bảo quản, đường bát được xếp từng cặp có dây rơm quấn quanh bỏ vào giỏ đem phơi rồi đậy kỹ treo lên xà nhà. Có khi bỏ vào trong các ghè bằng sành đậy kín. Nhưng để giữ đường bát được khô lâu thì tốt nhất là vùi đường vào khoai khô hoặc khoai chà trong ghè bằng sành.

Đường bát là sản phẩm đặc biệt, là một cốt cách con người của Quảng Nam. Và cũng chính loại đường bát này mới làm nên các món ăn truyền thống nơi đây như bánh tổ, bánh nổ, bánh ít gai, xôi ngọt, chè đậu, chà bắp, chè bí đỏ đến xoa xoa... mà đường kính sản xuất bằng máy ly tâm dù sạch và hiện đại đến mấy vẫn không thay thế được so với đường bát. Cứ mỗi lần giỗ chạp, hay dịp lễ tết, đường bát lại góp phần làm cho các loại bánh cổ truyền thơm ngon ngọt dẻo.

Ngày nay, ở Quảng Nam diện tích trồng cây mía ít dần đi hoặc có nơi bà con bỏ hẳn không còn trồng mía nữa. Những cặp đường bát lạc loài kia là cả một quá khứ với mùi đường non ngạt ngào, nghề đường dần chìm vào quên lãng... Nếu có dịp đến vùng quê trung du huyện Quế Sơn lác đác vẫn còn hiện diện nhiều xã trồng mía ép đường và hình ảnh đường bát vẫn được bày bán ở các chợ vùng quê Quảng Nam như một sản vật quý không hề mai một.

Theo Nguyễn Văn Sơn - Dân Việt
Du lịch, GO!

Saturday, 26 April 2014

(NCT) - Nằm bên ngã ba Sình có làng Thanh Tiên không những trồng lúa, trồng hoa, mà phát triển thêm nghề làm hoa giấy.
Từ trung tâm thành phố Huế, xuôi dòng Hương Giang khoảng 7 km sẽ đến ngã ba Sình, ngã ba sông đã đi vào thơ ca, tâm thức và tình cảm của bao người yêu Huế, gắn với câu ca nổi tiếng: “Đò từ Đông Ba/ Đò qua đập Đá/ Đò từ Vỹ Dạ thẳng Ngã ba Sình”...

Hơn 500 năm trước, Dương Văn An đã biết đến Ngã ba Sình. Trong tác phẩm “Ô châu cận lục” nổi tiếng, tiên sinh họ Dương phóng tả về dòng Linh Giang “Sông do hai nguồn Kim Trà (sông Hương) và Đan Điền (sông Bồ) đổ vào, rộng sâu vô hạn, khuất khúc hữu tình”. Chính nơi hợp lưu là Ngã ba Sình nổi tiếng, nơi tụ thủy cũng như tụ nhân. Vào năm 1306, đám cưới của công chúa họ Trần tên là Huyền Trân với vua Chăm.

Ngắm nhìn địa thế nơi giao hòa giữa đất, trời và sông nước, cửa ngõ từ biển Đông vào Thuận Hóa, thấy vị trí chiến lược của Ngã ba Sình, một trong những điều kiện tiên quyết để nhà Nguyễn xây dựng Thuận Hóa, thủ phủ của Đàng trong và sau này trở thành Kinh đô của nước Việt Nam dưới triều Nguyễn.

Thiên nhiên đã ban tặng nơi đây những biển bãi phù sa, những làng lúa, làng hoa trải dài hai bên sông. Với những làng quê Phú Mậu, Vỹ Dạ, Phú Dương, Thuận An... bên những ruộng lúa là những vườn hoa. Những năm gần đây, nghề trồng hoa giúp người dân Ngã ba Sình nâng cao thu nhập.

Theo sắc hoa, cuộc sống làng quê khởi sắc. “Nhất cận thị, nhị cận giang”, những làng quê theo đó mà phát triển. Đến hôm nay, cuộc sống thanh bình, nhà cửa khang trang trải dài theo suốt hai bờ sông, tạo nên cảnh sông nước hữu tình.

Nằm bên ngã ba Sình có làng Thanh Tiên không những trồng lúa, trồng hoa, mà phát triển thêm nghề làm hoa giấy. Các loài hoa lan, cúc, tử vi mà người làng Thanh Tiên vẫn hay trồng, giờ thành hoa, thành cánh cùng phơi sắc bởi những bàn tay khéo léo. Hoa giấy được làm từ giấy ngũ sắc, giấy thiếc, giấy bạc để làm nhụy, tre để làm cuống hoa và cành hoa. Hoa giấy Thanh Tiên được dùng trong tín ngưỡng và để trang trí. Sắc màu của hoa là một phần của sắc màu văn hóa dân gian Huế.

Làng hoa giấy Thanh Tiên ra đời gần 400 năm dưới thời các chúa Nguyễn. Ngài khai canh của làng Thanh Tiên là Võ Đình Tiên, phò chúa Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân. Khi vua Gia Long thống nhất đất nước, nhân lễ thượng tuần, nhà vua ban Chiếu lệnh cho mỗi trấn đem về một loại hoa quý để dâng vua.

Một vị quan người làng Thanh Tiên dâng lên vua một loại hoa giấy ngũ sắc với ý nghĩa độc đáo, tượng trưng đầy đủ đạo lí tam cương, ngũ thường. Mỗi cành hoa bao giờ cũng có tám bông hoa.

Ba bông ở giữa tượng trưng cho: Trung - Hiếu - Nghĩa, còn năm bông hai bên tượng trưng cho: Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín. Thấy ý nghĩa của hoa giấy Thanh Tiên, vua ban Chiếu khuyến khích người dân làng Thanh Tiên làm hoa giấy để bán lên kinh đô. Từ đó nghề làm hoa giấy của làng Thanh Tiên nổi tiếng khắp đất nước.

Ngoài các loài hoa truyền thống, từ năm 2008 đến nay xuất hiện thêm loài hoa sen từ chất liệu của hoa giấy Thanh Tiên do họa sĩ, nghệ nhân Thân Văn Huy khởi xướng. Là người con của làng, họa sĩ có tình yêu vô bờ bến với nghề truyền thống gắn liền với đời sống tâm linh của cha ông.

Những đóa hoa sen ngũ sắc được ông chăm chút, tỉ mẩn từng chi tiết. Từ kĩ thuật dập chỉ độc đáo của làng nghề, kết hợp với kĩ thuật tranh lụa, tranh thủy mặc nhuộm giấy, từ đậm sang nhạt tinh tế có tính thẩm mĩ cao.

Đến nay, những đóa hoa sen bằng giấy Thanh Tiên của họa sĩ Thân Văn Huy trở nên quen thuộc, gần gũi với khách du lịch đến Huế và có mặt ở nhiều địa phương trong nước và nước ngoài. Được họa sĩ hướng dẫn, đào tạo, nhiều gia đình ở Thanh Tiên biết làm hoa sen giấy để bán, đem lại nguồn thu nhập đáng kể.

Làng Lại Ân cũng nằm bên Ngã ba Sình nên có tên gọi là làng Sình và sản phẩm tranh giấy truyền thống được gọi là tranh làng Sình, loại tranh mộc bản, song tính thẩm mĩ được thể hiện qua chất liệu màu sắc, bố cục, đường nét. Nội dung thể hiện sinh hoạt, quan niệm của người dân nơi đây về thiên nhiên, xã hội, lịch sử và văn hóa.

Nguyên liệu làm tranh, màu tô pha chế từ các loại lá, hạt, bột gạch hay vỏ con sò điệp. Các nghệ nhân giã sò điệp phết lên giấy khi in và tô màu cho bức tranh có độ óng ánh thêm đẹp. Kiểu làm tranh truyền thống đang dần bị mai một, nên tranh làng Sình cũng bớt đi vẻ đẹp nguyên sơ.

Theo tập tục, cứ đến ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch, làng Sình lại tổ chức hội vật để tưởng nhớ người khai canh và để cầu mong ăn nên làm ra trong năm mới. Hội vật làng Sình đề cao tinh thần thượng võ.

Từ ngã ba Sình ngược lên là cảng Bao Vinh và phố thị Thanh Hà là trung tâm buôn bán sầm uất dưới triều Nguyễn. Dấu tích xưa còn lại là những ngôi nhà cổ. Phố thị Thanh Hà giờ là làng nghề mộc mĩ nghệ Hương Vinh.

Dưới bàn tay tài hoa của những người thợ điêu khắc, những sản phẩm gỗ như: Tượng, bàn ghế, nhà rường... ra đời và được đón chào ở khắp mọi miền đất nước. Phục chế nhà rường đúng theo nguyên mẫu của nhà rường Huế là khát vọng cháy bỏng của người thợ trẻ tài hoa Nguyễn Văn Thành.

Theo cha học nghề mộc từ năm 20 tuổi, anh Thành được cha truyền lại toàn bộ kiến thức về nghề. Đến nay, anh trở thành một trong những người thợ có tay nghề bậc nhất ở Huế về phục chế nhà rường. Nhà rường ở Huế là công trình nghệ thuật dân gian độc đáo cần được giữ gìn, bảo tồn cho muôn đời sau.

Ngày lại ngày, ngã ba Sình trở thành điểm hẹn để du khách bốn phương đến thăm nơi con sông Hương và sông Bồ hòa vào nhau xuôi về biển cả.

Theo: Báo Người Cao tuổi
Du lịch, GO!

Friday, 18 April 2014

(TBKTSG) - Tuy không trắng trong, bóng bẩy như những loại bún ở nơi khác nhưng bún của làng Mạch Tràng (xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội) vẫn được người ta nhớ tới bởi hương vị thơm ngon, giai giòn, thanh mát không những đây là món ăn dân dã quen thuộc của người dân Cổ Loa, hơn thế nó lại còn là món ăn gắn liền với kí ức của một thời xa xưa.

Chuyện kể rằng: “...Trong lúc chuẩn bị yến tiệc cho lễ dạm hỏi công chúa Mỵ Châu, người đầu bếp đã làm đổ bột gạo vào chiếc rổ đặt trong vạc nước sôi. Quá hốt hoảng, vội vàng nhấc chiếc rổ lên, anh chợt thấy bột gạo đã kết thành những dây dài mầu trắng. Tiếc của, vả lại không biết làm gì với những sợi bột trắng kia, sẵn có rau cần, anh bèn cho sợi gạo vào xào với rau cần, làm món ăn lót dạ...

Khi thực đơn được bày lên, vua An Dương Vương lấy làm thích thú khi thấy trên bàn tiệc xuất hiện một món ăn lạ, có màu sắc trang nhã, thơm mùi thơm của hương đồng cỏ nội... Nhà vua hết lời khen ngợi. Món bún xào rau cần ngẫu nhiên trở thành món ăn đặc biệt trong thực đơn đãi khách của nhà vua...”. Bún Mạch Tràng xuất hiện từ đó. Và cũng từ ngày ấy trở thành món ăn đặc sản của vùng Cổ Loa; được dâng cúng hằng năm vào dịp lễ hội đền Cổ Loa (ngày 6 tháng Giêng), hay ngày 13 tháng Tám (ngày ăn hỏi công chúa Mỵ Châu).

So với những sợi bún của nhiều vùng quê khác, bún Mạch Tràng không trắng bắt mắt mà có một màu trắng ngà rất đặc trưng. Sợi bún Mạch Tràng cũng dài, dai hơn sợi bún của nhiều vùng quê Việt. Đây là bí quyết riêng của những người thợ làm bún Mạch Tràng.

Nguyên liệu chính để làm bún Mạch Tràng thường chọn các loại gạo như gạo Bà tai hồng, Mộc tuyền, C70, C71. Gạo dùng chủ yếu ngày nay là C71 và Khang dân bởi nhưng loại gạo này thường có hàm lượng bột cao, cho ra nhiều sợi bún. Sự khác biệt căn bản trong cách thức làm bún của làng Mạch Tràng với những vùng quê khác là trước khi mang đi xay thành bột, gạo được ủ bằng chăn trong khoảng từ hai đến bốn ngày, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết. Trong khi thông thường tại các làng nghề làm bún khác, gạo sẽ được vo, đãi sạch và đem ngâm nước qua đêm. Sau đó đưa gạo đã ngâm vào xay cùng với nước để tạo thành bột gạo ướt, dẻo.

Sau khi ủ, gạo được vớt ra rửa sạch rồi cho vào ngâm trong nước từ một đến hai ngày, cho đến khi sờ thấy hạt gạo mềm thì cho vào xay. Nước bột được mang đi ngâm khử chua 2 ngày rồi mới đưa lên bàn ép thành bột. Những người thợ làm bún cắt bột thành từng quả, gọi là quả trùng; sau đó đem luộc chín trong khoảng 15-20 phút, lại cho vào cối giã nhuyễn mới đưa vào khuôn vắt tay thành sợi bún. Trước khi được xếp vào thúng có rải một lớp lá ngái dưới đáy. Những sợi bún Mạch Tràng được cho vào nồi nước sôi khuấy đều luộc chín.

Từ những yêu cầu chế biến tỉ mỉ, chính xác cao thể hiện sự tinh tế của người làm bún, sản phẩm bún Mạch Tràng không những có thể ăn trực tiếp kèm với nhiều loại thực phẩm khác tạo thành các món ăn như bún mắm, bún chả, bún đậu… mà còn được xào chín với rau cần. Bún xào cần từ lâu đã trở thành món ăn quen thuộc của người dân Cổ Loa. Đặc biệt còn là một sản phẩm không thể thiếu của người dân Cổ Loa dâng lên vua An Dương Vương tro ngày hội Cổ Loa nhằm tưởng nhớ đức tiên Đế (mùng 6 tháng Sáu) và ngày sêu Bà Chúa (ăn hỏi Mỵ Châu vào ngày 13 tháng Tám).

< Bún cần, món ăn thể hiện sự khoản đãi thịnh tình của người Cổ Loa.

Dù nghề làm bún ở Mạch Tràng có đã có bề dày lịch sử, dù món bún xào rau cần đã trở thành món ăn phổ biến của vùng Cổ Loa, nhưng bún Mạch Tràng vẫn chưa vượt ra “khỏi lũy tre làng”. Người tiêu dùng Hà Nội và các tỉnh lân cận còn ít người biết tới. Có một nguyên nhân, là do trong làng chỉ có mươi nhà còn giữ nghề làm bún gia truyền. Hằng ngày số bún được sản xuất không nhiều, nên chỉ đủ tiêu thụ trong vùng.

Về thăm Cổ Loa, nghe lại câu chuyện tình giữa Mỵ Châu-Trọng Thủy, thưởng thức những sợi bún trắng ngà của làng Mạch Tràng mới thấy câu chuyện tuy rất xưa đấy nhưng chẳng bao giờ là cũ cả.

Theo The Saigon Times
Du lịch, GO!

Lịch sử đăng bài

Powered by Blogger.

Bài đăng mới

Thích thì click!^^

Bải đăng phổ biến