Showing posts with label Thắng cảnh tâm linh. Show all posts
Showing posts with label Thắng cảnh tâm linh. Show all posts

Monday, 26 May 2014

(PNO) - Theo chân đoàn Farmtrip “kỳ thú Trị An, ngạc nhiên Phan Thiết” do Lửa Việt Tours tổ chức, chúng tôi may mắn được “mục sở thị” ngôi chùa cổ nhất miền Trung cùng bộ kinh Pháp Hoa có một không hai.

< Chánh điện chùa Phật Quang - Phan Thiết.

Tương truyền, chùa Phật Quang có tên gốc là Bồ Đề, thuộc thôn An Hòa, tổng Vạn Phước, huyện An Phước, phủ Bình Thuận, nay là đường Trần Quang Khải, P. Hưng Long, TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Chùa được xây cách đây hơn 320 năm.

Sau khi về trụ trì chùa Phật Quang, sư Thích Huệ Tánh đã cho xây dựng chính điện mới ở phía trước ngôi chùa cổ. Chùa Phật Quang mang vẻ uy nghi, tĩnh lặng, hoa văn chạm trổ ở tiền sảnh, bao lam, nóc, mái chùa có màu sắc tươi sáng, tượng Phật Di Lặc nụ cười hoan hỉ tọa ngay giữa chính sân…khiến du khách đến viếng chùa cảm thấy tươi vui, nhẹ nhàng. Chùa có hẳn một khu nhà nghỉ khang trang dành cho các đệ tử và khách thập phương, gian phòng nhỏ cạnh chính điện chùa cổ là nơi nghỉ ngơi dành cho sư trụ trì.

Khách đến viếng chùa ngoài giao tiếp với sư trụ trì thân thiện, hài hước còn thích thú xem những bảng tin được treo ở các bức tường phía sau và bên hông chánh điện.

Mỗi mùa xuân, sư Thích Huệ Tánh đều cho thực hiện một bảng tin chào năm mới và đúc kết hoạt động của năm đã qua của chùa bằng nhiều bài thơ của các vĩ nhân, những người bạn, của khách đến thăm chùa và của chính sư trụ trì. Khách viếng chùa như lắng lòng với những áng thơ về cõi nhân sinh, vạn vật, thời gian…

Cả đoàn tiếp tục theo chân sư trụ trì tham quan ngôi chính điện và nghe kể về lịch sử của ngôi chùa cùng bộ kinh. Theo sư Thích Huệ Tánh, tháng 11/1987, khi đang quét dọn sân chùa, nhà sư cùng các đệ tử vô tình phát hiện ra bên dưới sân chùa cổ (nay là chính điện của chùa mới) một căn hầm.

Thầy trò vui mừng khôn xiết vì tìm được trong hầm một kho báu vô giá. Đó là bộ kinh Pháp Hoa được khắc trên gỗ thị đỏ, loại gỗ hiếm chỉ phát triển được ở vùng Bình Thuận, Ninh Thuận.

Bộ kinh Pháp Hoa được khắc ngược bằng chữ Hán trên 118 tấm gỗ, mỗi tấm dày 4cm, dài 80cm, rộng 35cm, trong đó 110 tấm chữ và 8 tấm khắc tranh về cuộc đời của Đức Phật. Điều kinh ngạc là bộ kinh Pháp Hoa với hơn 60.000 chữ đều được khắc hoàn toàn bằng đôi tay tài hoa của ba vị thiền sư Pháp Không, Thiện Huệ, Bảo Hương cùng 12 đệ tử trong suốt 28 năm ròng rã (từ năm 1704 - 1732).

Được biết, bộ kinh tại chùa Phật Quang là một trong ba bộ kinh Pháp Hoa cổ nhất trên thế giới tính đến nay. Hai bộ khác ở Trung Quốc được khắc trên chất liệu đá và chất liệu đồng hiện đã bị phong hóa, mục nát, thất thoát nên nội dung chỉ còn được khoảng 20-30%.

Riêng bộ kinh Pháp Hoa trên gỗ thị đỏ tại chùa Phật Quang vẫn nguyên vẹn gần như 100%. Hơn 300 năm tuổi đời, từng tấm gỗ khắc kinh vẫn vuông vức, sắc cạnh. Màu gỗ chuyển sang nâu đen bóng, từng nét chữ, nét vẽ đều tinh xảo.

Ngoài bộ kinh Phật khắc bằng gỗ đầy đủ và cổ xưa nhất được ghi vào kỷ lục guiness Việt Nam, chùa Phật Quang còn có hai kỷ lục khác là chuông Gia Trì và cặp mõ Gia Trì làm bằng gỗ lớn nhất Việt Nam. Được biết, cặp mõ Gia Trì cao 80cm, ngang 92cm, được làm bằng gỗ mít Quảng Bình, do 3 thợ Quảng Nam thực hiện từ 1977 - 2004. Chuông Gia Trì do thợ Quảng Nam thực hiện, cao 1m, đường kính 1,2m, nặng 400kg.

Theo An Hà (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Tuesday, 13 May 2014

Di tích Trà Kiệu ở làng Trà Kiệu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 45 km về phía tây nam, di tích nằm trên một dải đồng bằng, là cửa của một thung lũng rộng hình tam giác, các ngọn núi: Chóp Xôi, Núi Chúa, Núi Ðất... nối liền nhau tạo nên hai bức tường thành tự nhiên bảo vệ hai cạnh phía tây bắc và tây nam của thung lũng.

Trà Kiệu được coi là kinh đô Sinhapura hay “Kinh thành Sư Tử” của Vương quốc Champa từ khoảng thế kỉ 6 đến thế kỉ 7. Simhapura là kinh đô của tiểu quốc Avamarati một trong 5 tiểu quốc của vương quốc Champa. Theo văn bia cho biết, người đặt đô đầu tiên ở đây là vua thứ 9 Vikrantavacman II vào khoảng 686 – 731, thuộc dòng Gangaraja trị vì từ thế kỷ 3 đến giữa thế kỷ 8.

Sau chính biến năm 1470 giữa vương quốc Champa và Đại Việt, vua Lê Thánh Tông đã đặt mốc biên giới tại Thạch Bi sơn, và cùng với đó là làn sóng di cư của những người Việt vào Nam theo đà nam tiến. Vào năm 1623, Trà Kiệu đã được một số người tình nguyện di dân ở các vùng chung quanh chọn để tới khai hoang lập ấp.

 Theo nhiều nhà nghiên cứu thì tên Trà Kiệu được xuất phát từ cách gọi Chùm Chà chỉ những người Chiêm Thành. Chữ Chà phía sau đọc trại thành Trà còn chữ Kiệu có thể hiểu rằng người ở nơi xa đến, ý chỉ những người đàng Ngoài vào lập nghiệp tại vùng đất này.

Vào năm 1927-1928, dưới sự chỉ đạo của J.Y.Claeys, Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã tiến hành cuộc khai quật ở Trà Kiệu. Theo miêu tả của Claeys, chu vi của toà thành vào khoảng 4000m. Ông còn tìm thấy một dãy những bức tường gạch được gọi là hoàng thành. Ông còn tìm thấy nhiều đền, tháp, các tác phẩm điêu khắc, văn bia có giá trị lớn ở 2 ngôi làng: Chiêm Sơn Đông và Chiêm Sơn Tây nằm kế cận kinh thành Trà Kiệu xưa.

Sau cuộc khai quật một phần kinh đô cổ Trà Kiệu của Claeys vào các năm 1927 – 1928, nhưng tầng văn hóa dưới lòng đất Trà Kiệu lại ngủ yên suốt hơn nửa thế kỷ. Từ thập niên 90 đến nay những nhát cuốc của các nhà khảo cổ đã rộn ràng đánh thức những di chỉ văn hóa ẩn chìm dưới lòng đất. Ngoài các di chỉ văn hóa Chăm, vùng đế đô xưa một thời vang bóng này còn chứa các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh đầy lôi cuốn với những ai muốn soi rọi lại một phần quá khứ của hàng nghìn năm trước.

Vào những năm 1980, có nhiều những hiện vật nhỏ làm bằng vàng đã được khai quật. Chúng là những trang sức có hình mặt trăng, mặt trời, các vì sao, còn có cả những bức tượng thần rỗng ruột, tượng động vật và những cuốn sách thánh dày tạo bởi vàng lá dày 1cm khắc chữ Phạn và những miếng vàng hình tròn với những mẫu tự tiếng Ả Rập. Tổng sô vàng được tìm thấy lên đến vài ký. Điều này cho thấy sự giàu có, trù phú của thành Sinhapura trong thời kì phát triển thịnh vượng nhất từ thế kỉ thứ 4 đến thế kỷ thứ 10.

Kinh đô Trà Kiệu là một tổng thể không thể thiếu được trong nền văn minh , văn hóa Á Đông nhất là văn minh Champa là : Kinh đô – Lăng Miếu , Thánh địa , Đền đài để thờ cúng các tiên vương, chư thần…Theo nghiên cứu của GS.TS Trần Quốc Tý, nếu du khách nhìn từ Cù Lao Chàm- nhà thờ Trà Kiệu – và thánh địa Mỹ Sơn là nằm trên một đường thẳng theo đường chim bay. Đây là một phát hiện vô cùng lý thú.

Cho đến nay, giới khảo cổ và sử học đã tìm thấy nhiều di tích đền, tượng, bệ thờ, tường thành, đồ gốm, bia kí và nhiều bức phù điêu tại Trà Kiệu, trong đó nổi tiếng nhất là bức chạm “Vũ nữ Trà Kiệu”. Tất cả những hiện vật này  một phần được mang về Bảo tàng điêu khắc Chăm tại Đà Nẵng, số còn lại du khách có thể chiêm ngưỡng tại một cửa hàng đồ lưu niệm đặt trong khuôn viên Nhà thờ Trà Kiệu như  ghi nhận những phồn thịnh và lưu giữ những hình ảnh đẹp kì lạ về dấu tích điêu khắc Chăm một thời tại Trà Kiệu.

Ngày nay tại Trà Kiệu, một nhà thờ thiên chúa giáo đã được xây dựng trên ngọn đồi Bửu Châu. Nó được xây dựng trên nền của một tháp Chăm. Đứng ở đây chúng ta sẽ có được một cái nhìn toàn cảnh thung lũng Trà Kiệu với những cánh đồng màu mỡ và một bức tường thành dài hơn 1000 m, một di tích bên trong cung điện đã được miêu tả như trong Thủy Kinh Chú của Trung Quốc.

Từ đỉnh đồi chúng ta có thể thấy đỉnh núi Mỹ Sơn ở phía Tây  và Cù Lao Chàm về phía Đông . Từ đây chúng còn thấy được địa hình thuận lợi và những phong cảnh đẹp mà người Chăm đã chọn để xây dựng thủ đô của mình.

Trà Kiệu ngày nay lại được chọn là Trung Tâm Thánh Mẫu. Hằng năm, cứ vào ngày 31 tháng năm, lại có hàng vạn người, cả lương lẫn giáo, từ các tỉnh miền Trung tấp nập kéo nhau về đây cầu nguyện và xin ơn Đức Mẹ.

Xem thêm:
- Nhà thờ Núi Trà Kiệu nằm bên bờ sông Thu Bồn, cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 45km về phía tây nam, cách thị trấn Nam Phước 9 km, cách Thánh Địa Mỹ Sơn 10 km về phía Tây. Từ ngã ba Nam Phước (Thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên) đi theo đường 537 khoảng 9km sẽ đến di tích Kinh đô Trà Kiệu nay là Nhà thờ Núi Trà Kiệu.

Theo CTTĐT Quảng Nam
Du lịch, GO!

Sunday, 11 May 2014

(TNO) - đường Mạc Đĩnh Chi, P.Quang Trung, TP.Kon Tum, tỉnh Kon Tum bây giờ còn một ngôi chùa và ngôi đình có lối kiến trúc cổ xưa.

Dấu chân người khai sơn

Ít ai biết, chùa và đình này được xây từ chính bàn tay của những người miền xuôi lên khai khẩn đất Kon Tum. Đây là chùa tổ đình Bác Ái và đình Võ Lâm, tuy hai nhưng lại là một.

Từ giữa thế kỷ 19, người dân ở các tỉnh duyên hải miền Trung tìm lên sinh cơ lập nghiệp tại Kon Tum ngày một đông. Tuy nhiên, do chỉ có con đường độc đạo đi từ tỉnh Bình Định lên Tây nguyên nên thuở ấy, người Bình Định đặt chân lên Kon Tum sớm nhất.

Theo đó, dòng di dân đầu tiên chính là những gia đình Thiên Chúa giáo trốn lệnh bắt đạo gay gắt của triều đình nhà Nguyễn, theo chân các cha cố Hội Truyền giáo Kon Tum. Dòng thứ hai là những gia đình muốn thoát cảnh sưu cao thuế nặng, hoặc trốn tránh những rắc rối về mặt pháp luật đang gặp phải ở quê nhà.

Theo sách Kontum tỉnh chí của Võ Chuẩn (sinh năm 1896), tại TP.Kon Tum hồi đó, Võ Lâm là làng thứ ba (sau làng Trung Lương và Lương Khế) ở nội thị Kon Tum gồm những gia đình ngoại đạo. Sách viết: Năm 1933 những người ngoại đạo xin phép lập một cái chùa thờ Phật và quy y các vong linh những người chết mà thân thuộc không thể đem thi hài về xứ được, ban đầu chùa lấy tên là Linh Sơn về sau đổi thành Bác Ái. Theo trụ trì đời thứ 4 chùa Bác Ái là hòa thượng Thích Chánh Quang, chính quan Quản đạo Kon Tum là Võ Chuẩn đã cho phép dựng chùa Linh Sơn. Tự ông Võ Chuẩn vẽ thiết kế và huy động nhân công phát hoang rừng rú, lấy đất xây chùa. Nhờ vậy, khởi công trong 10 tháng đầu của năm 1932, đến đầu năm 1933 thì chùa hoàn tất, với vách bằng mành tre, lợp ngói âm dương. Lúc xây chùa, xung quanh còn nhiều rừng rậm rạp. Phía sau chùa là rừng với nhiều cây đại thụ lớn. Còn phía trước chùa là con suối Bác Ái, nay đã bị lấp.

Sau khi xây dựng xong chùa Linh Sơn (tức Bác Ái), Võ Chuẩn đã chiêu mộ dân chúng khai hoang lập khu dân cư quanh khu vực chùa, tức làng Võ Lâm sau này. Theo sách Kon Tum - Di tích và danh thắng, tên làng Võ Lâm được giải thích: Võ là họ của Võ Chuẩn, người công đầu trong việc lập làng, còn Lâm nghĩa là rừng. Công việc khẩn hoang lập làng kéo dài từ năm 1933 đến 1935. Lúc này bà con dân làng bàn chuyện dựng đình Võ Lâm và chọn gần chùa Linh Sơn.

Chính ông Võ Chuẩn chỉ định vị trí đất và giao quan Đề lại Hồ Thượng Chất chủ trì thi công đình với diện tích ban đầu khoảng 1.000 m2. Trước, đây là nơi sinh hoạt cộng đồng, thờ tự âm linh cô bác, tổ thần thổ địa, về sau làm nơi thờ tự những vị tiền hiền khai canh và nay nó là nơi thờ Thành hoàng làng Võ Lâm là Quản đạo Võ Chuẩn.

Hổ dữ hóa hiền

Đưa chúng tôi đi thăm cảnh chùa, trụ trì Thích Chánh Quang cho biết khi chùa Bác Ái khánh thành, chính vua Bảo Đại đến dự và sắc phong biển Sắc tứ Bác Ái tự. Biển này giờ vẫn còn son đỏ và chữ vàng, không phai mờ. Từ đó, chùa chuyển sang tên Bác Ái. Sở dĩ có tên Bác Ái là do vua Bảo Đại biết chùa có gần 40 mẫu ruộng tốt, nhưng khi thu hoạch đều phân phát cho người nghèo, bất kể tín đồ hay tôn giáo khác hay cô khổ ở mọi nơi bước chân vào chùa xin cơm gạo.

Trụ trì Thích Chánh Quang còn cho hay khi chùa xây lên, khói hương không ngớt hưng thịnh. Thế nhưng, xung quanh vẫn là rừng hoang, đêm đêm tiếng thú dữ đi ăn đêm vẫn gầm rú, nhà chùa nghe có cảm giác bất an. Có điều chưa có thú dữ nào xông vào chùa phá phách hay bắt chó, gia súc nuôi. Vậy mà vào một buổi chiều khoảng cuối năm 1932, cả chùa giật thót khi thấy một con bạch hổ ba chân lừ lừ từ rừng đi vào chùa. Con bạch hổ này vốn nổi tiếng hung bạo ở rừng này. Nó tấn công và ăn thịt tất cả các loài thú. Khi thiếu mồi, nó còn tấn công cả người. Một khi bạch hổ đã ăn thịt người thì nó càng hung tợn, càng dữ hơn bất cứ loài thú ác nào.

Lạ thay, khi bước vào chùa, con bạch hổ ba chân này không gầm gừ mà cong đuôi hiền lành về nằm tại khu bếp của chùa. Đầu bạch hổ gác lên hai chân trước, tai dỏng lên, mũi hít hít, còn mắt thì lim dim như tận hưởng cái gì đấy rất yên lành. Đến khoảng 20 - 21 giờ, các sư trong chùa vào chính điện để tụng kinh Phật, con bạch hổ cũng tiến về chính điện, nằm phủ phục ngoài cửa điện thờ, quỳ hai chân trước, đầu gác lên, còn một chân sau thì sãi ra. Khi hết giờ tụng kinh, các sư về nghỉ, bạch hổ lại chui vào gian bếp. Đến 4 giờ sáng hôm sau, nó lại dậy nghe kinh Phật lần nữa, rồi khi trời còn tờ mờ sáng thì vào rừng.

Cứ thế suốt 10 năm, con bạch hổ ngày nào cũng về chùa nghe kinh Phật như vậy. Các sư trong chùa quen dần, lấy tay vuốt lông, có người còn cưỡi lên, nhưng con bạch hổ vẫn hiền lành, đưa lưỡi liếm tay các nhà sư. Trụ trì Thích Chánh Quang đưa chúng tôi đi tham quan, chỉ gian bếp nơi bạch hổ về nằm, phía ngoài gian chính điện bạch hổ nằm nghe tụng kinh Phật.

Đáng nói nữa là, từ khi về chùa Bác Ái nghe kinh Phật, xung quanh chùa thú dữ tránh đi hết, trong vùng không còn xảy ra các chuyện đau thương như người bị hổ vồ, hay thú dữ tấn công vật nuôi của làng Võ Lâm nữa. Đến khoảng năm 1943 thì bạch hổ bỏ đi đâu không ai biết.

Ngày nay, tại đình Võ Lâm hằng năm vào các ngày 12.2 và 12.8 âm lịch, dân sinh sống trong làng tề tựu đông đủ, cùng nhau đóng góp tiền của tổ chức ngày tế để tưởng nhớ tiền nhân. Trước 1975, mỗi dịp tế đình, bà con còn rước gánh hát bội Bình Định lên diễn mấy ngày liền. Bây giờ ở đình Võ Lâm, hình con bạch hổ được chạm khắc ở ngay bình phong vào chính điện thờ. Theo giải thích của sư Thích Chánh Quang, bạch hổ ở đây không chỉ trừ tà mà còn ngăn ngừa được “ma rừng” theo quan niệm của người bản địa.

Theo Phạm Anh - Tạ Văn Sỹ (báo Thanh Niên)
Du lịch, GO!

Friday, 9 May 2014

Chúng tôi về với chùa Thọ Am (còn gọi là chùa Bất Nhiễm) ở xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Hà Nội một buổi trưa ngày mùng Một đầu tháng. Gần đó, Hà Nội nổi tiếng có chùa Tứ Kỳ, chùa Văn Điển, chùa Pháp Vân…đã nhiều người biết đến. Trong khi chùa Thọ Am thì ít người biết hơn, nên việc tìm đường cũng vất vả hơn cho những ai lần đầu muốn tìm đến thăm chùa.

Xuôi theo con đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, tới cuối địa phận Hà thành về phía nam gần tới đường cao tốc rồi theo con đường nhỏ phía bên phải, men theo đường đất chừng 500 mét, thì qua đường hầm nhỏ (cầu chui dân sinh), phía bên phải là chùa Thọ Am. Ngôi chùa mái đỏ u tịch mang tên Bất Nhiễm Tự nổi bật giữa đồng lúa xanh ngút ngát.

< Cổng chính chùa nhìn ra ngoài, con đường thẳng tắp ra sát đường quốc lộ.

Chùa gần như bốn bề được bao bọc bởi ruộng lúa, ngay lối chính dẫn vào cổng chùa, có chừng 100 mét mà hai bên thẳng tắp những hàng lúa xanh mơn mởn. Cái nắng gắt trưa hè, xen lẫn gió đồng nội, đượm thơm mùi lúa mới. Chưa tới cổng chùa, nhưng chúng tôi ai cũng cảm nhận sự thanh bình, trang nghiêm, thanh tịnh…

Tương truyền từ năm 684, chùa đã được xây cất trên mảnh đất có thế “rồng cuốn đàn cá chép”, chầu về hướng làng Phương Nhị – nơi táng Cao Biền; chính vì nằm giữa bốn bề ao hồ nên mới có tên là Bất Nhiễm.

< Chính điện Tam Bảo.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, chùa bị bắn phá rồi bị cháy nên không còn giữ được kiến trúc cổ. Song lạ kỳ thay, góc chùa còn vẹn nguyên dáng dấp cổ xưa của một cây sữa mà phụ nữ khắp vùng này bao đời nay thường trang trọng tới đây xin lấy vài giọt nhựa cây, vào chùa khấn thầm rồi hòa nước uống để đạt ý nguyện có nhiều sữa nuôi con…

< Chuông đồng cổ nằm im lìm trên tháp.

Cây sữa này cũng chính là nơi treo lá cờ đầu tiên của tổ chức Nông hội đỏ thành lập cách đây hơn 70 năm.

Bất Nhiễm Tự nay thuộc thôn Thọ Am, xã Liên Ninh, Thanh Trì, Hà Nội. Nơi đây vẫn còn phảng phất nét đặc trưng của một làng Việt cổ và theo lời cụ Phùng Hữu Kiêm, SN 1920, một trong số hàng trăm người già trong làng (cả làng có tới 14 cụ thọ từ 90-99 tuổi): thuở xa xưa, giữa làng là khoảng 20 cái ao vuông thành sắc cạnh, chạy thành vệt dài, giữa là bờ đi nho nhỏ. Nguyên do vì nhà nào khi xây cất cũng đào đất giữa làng để đắp nền nhà, tạo thành ao liền kề cho tiện việc sinh hoạt và lấy nước chữa cháy (bởi mái nhà nào cũng lợp toàn bằng rơm rạ). Ngày nay, với đà đô thị hóa, nét đặc trưng trên vô tình tạo cho Thọ Am sự ngăn nắp, gọn gàng thành những dãy phố nhỏ, giữa có lối đi rộng rãi, bao bọc lấy làng vẫn là những bụi tre rậm rạp.

< Trước thềm chính điện Tam Bảo trồng nhiều hoa Đại Đỏ, ngoài sân lá vẫn rụng đầy…

Trước sân đình Thọ Am – nơi lưu giữ 37 đạo sắc do vua Lê ban cho từ những năm đầu thế kỷ 17 vẫn còn một cái ao rộng và 5 cây quéo thân rộng 2 người ôm không xuể. Hậu cung đình là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng; riêng chùa Thọ Am ghi dấu những ngày hoạt động cách mạng đầu tiên của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười (quê hương ông chính là làng Nhót) cùng các ông lang Bằng, Nguyễn Thọ Chân, 3 chị em bà Nhì, bà Tam, bà Tứ…

< Một góc sân chùa trước sảnh nhà thờ Mẫu.

Thọ Am đã và đang giàu lên với nhiều nghề phụ, không còn nghề bện thừng nứa; những người con Thọ Am xa quê có quyền tự hào khi nhớ về nét đặc trưng thuần Việt của làng mình, nhớ về di tích lịch sử chùa Bất Nhiễm và tự hào vì là mảnh đất hiền hòa có nhiều người sống cao tuổi.

Tổng hợp từ internet, ảnh Kiến Thức.net
Du lịch, GO!

Wednesday, 7 May 2014

(ĐNO) - Từ hơn 500 năm trước, 43 chư tộc họ thuộc làng Hải Châu, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa đã theo vua Lê Thánh Tông vào Nam khai phá đất đai và lập nên làng Hải Châu. Đình làng Hải Châu được xây dựng vào năm Gia Long thứ 5 (1806) để thờ Thành Hoàng làng và các vị Tiền hiền, Hậu hiền của làng.

Đình làng Hải Châu nằm trong khuôn viên rộng 3.500m2 tại kiệt 48/14 đường Phan Châu Trinh, trong quần thể các di tích của làng Hải Châu gồm Nhà thờ Tiền hiền, nhà thờ các chư phái tộc và miếu Bà tại phường Hải Châu 1, quận Hải Châu. Giữa lòng thành phố Đà Nẵng hôm nay, Đình làng Hải Châu, một di tích cổ kính thân thương, một nét đẹp văn hóa đình làng, như nhịp cầu nối người dân thành phố hôm nay với quá khứ của những ngày đầu lập làng, lập ấp.

Trong văn bia chùa Long Thủ (nay là chùa An Long) ở phường Bình Hiên, dựng vào năm Thịnh Đức thứ 5 (1657), là một trong những tấm bia cổ ở Đà Nẵng, cũng có nhắc đến địa danh Hải Châu. Như vậy là cùng với làng Nại Hiên, làng Hải Châu cũng là một trong những làng đã được xây dựng sớm ở Đà Nẵng, mà địa giới hành chính lúc bấy giờ có thể bao gồm các phường Hải Châu 1, Hải Châu 2, và Nam Dương ngày nay.

Vào năm Gia Long thứ 5 (1806), các hương chức làng Hải Châu xin vua Gia Long cho lập đình thờ Thành Hoàng làng và các vị Tiền Hiền, Hậu Hiền của làng (lần thứ nhất). Đầu tiên đình được xây dựng tại khu đất Nghĩa Lợi bên bờ sông Hàn.

Đến năm 1858, đình bị hư hại nặng do chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Năm 1860, nhân dân xây dựng lại đình (lần thứ hai) tại khu đất nay thuộc địa phận trường Trung học Y tế thành phố Đà Nẵng ngày nay (số 99 đường Hùng Vương, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng).

Đến năm 1903, do nạn dịch đậu mùa, người Pháp sử dụng ngôi đình làng Hải Châu làm trạm y tế để điều trị bệnh nhân. Năm 1904, thể theo đơn xin của dân làng, người Pháp trả lại đình. Tuy nhiên, nhân dân Hải Châu quan niệm cho rằng ngôi đình làng bị ô uế nặng nên một lần nữa làm đơn thỉnh nguyện dâng lên vua Thành Thái xin cho xây dựng lại ngôi đình làng tại vị trí hiện nay (phường Hải Châu I, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng). Lần xây dựng này (lần thứ ba) bao gồm đình làng, nhà thờ Tiền Hiền, nhà thờ 43 Chư phái tộc, Miếu Bà (thờ Thánh mẫu Thiên Y Ana), cổng tam quan và một hồ sen.

Để bảo tồn, phát huy và tôn vinh những giá trị của Đình làng Hải Châu, ngày 12/7/2001 Bộ Văn hoá và Thông tin (nay là Bộ Văn hoá - Thể thao và Du Lịch) công nhận Đình Hải Châu và nhà thờ Chư phái tộc là Di tích Lịch sử Văn hoá Quốc gia. Đầu năm 2002, UBND thành phố Đà Nẵng đã có quyết định đầu tư phục hồi, tôn tạo khu di tích đình và nhà thờ chư phái tộc; đến năm 2005, đình làng Hải Châu được chính thức hoàn thành.

Đình Hải Châu là một trong những ngôi đình có không gian hài hoà, quy mô lớn, kiến trúc đẹp ở Đà Nẵng hiện nay. Trước mặt đình là hồ nước hình chữ nhật, giữa có ngọn giả sơn và một cây si lớn.

Bước qua khoảng sân rộng là đến những công trình chính của đình, bao gồm nhà tiền đường, hai dãy nhà hành lang nối liền phía sau đến nhà chính điện. Kiểu nhà tiền đường một gian hai chái. Chính điện theo lối ba gian hai chái. Tất cả các đơn nguyên kiến trúc đều làm bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, tường xây gạch. Trên cổng Tam Quan vẫn còn rõ tên “Hải Châu Chánh Xã” bằng chữ Hán. Qua khoảng sân rộng là một quần thể kiến trúc chính gồm: Đình Hải Châu, Nhà thờ Tiền Hiền.

Theo các nhà nghiên cứu, hiện nay đình Hải Châu còn lưu giữ nhiều hiện vật, hoành phi và liễn đối bằng chữ Hán, được sơn son thếp vàng, có niên đại hàng mấy trăm năm.

Đình còn lưu giữ lại 9 bức được làm vào các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và Bảo Đại. Trong số này, bức hoành phi được làm từ thời vua Gia Long lớn nhất có chiều dài 2 m, chiều rộng 0,7 m, ghi: “Vạn cổ anh linh” (dịch là Muôn thuở anh linh), dòng lạc khoản ghi đầy đủ: “Hoàng triều Gia Long, thập thất niên, tuế thứ Mậu Dần; Hải Châu chánh xã đồng cung lặc” (dịch nghĩa: Năm Mậu Dần, niên hiệu Gia Long thứ 17, xã Hải Châu chính đồng kính chạm). Ngoài ra, các bức hoành phi khác được làm vào năm 1825 (vua Minh Mạng), thời vua Tự Đức có hai bức, một đề “Thiên tức Thánh - Thánh tức là Trời” (ghi năm 1851) và bức khác ghi “Thiên tham nghĩa - Việc nghĩa hợp với lòng trời” (ghi năm 1856)...

Bên trong đình còn có 3 tấm bia đá cẩm thạch, trong đó có một tấm cao 1,2 m, rộng 0,7 m, được lập vào năm Tự Đức thứ 14 (1861), bên trên bia chạm hai con rồng đường nét sắc sảo, uyển chuyển theo thế “lưỡng long triều nguyệt”.

Nội dung bài văn khắc trên bia, ghi rõ: “Hải Châu chánh xã ở Quảng Nam, từ xưa đã có miếu thờ Quan Thánh đế quân. Năm Tự Đức, Mậu Ngọ (1858) giặc tràn vào quấy nhiễu ở Đà Nẵng, khiến nhân dân khiếp đảm chạy tán loạn, nơi ấy thành bãi chiến trường, miếu Quan Thánh chỉ còn trơ nền cũ. Tổng đốc tỉnh Quảng Nam là ngài Đào đại nhân (tức Tổng đốc Đào Trí) vâng lệnh thiên tử, quản lý cả quân vụ. Ngài kêu gọi lưu dân Hải Châu về quê ổn định, ngài bèn tập hợp mọi thứ vật liệu còn lại đề xướng việc tu tạo lại miếu thờ đế quân. Nhân dân vui mừng và cùng nhau hưởng ứng, đem cả của cải và dốc sức lực, chẳng bao lâu miếu được hoàn thành...”. Hai văn bia còn lại được lập vào năm Bảo Đại nguyên niên (1926) để ghi công đức của nhân dân Hải Châu đóng góp tiền của sửa chữa lại đình và nhà thờ 43 chư phái tộc.

Đặc biệt, còn có một quả chuông đồng cao 1,3 m, đường kính miệng rộng 0,7 m, có niên đại hàng trăm năm. Trên đỉnh chuông đúc hình hai con rồng nằm quấn đuôi vào nhau, trên thân chuông chia làm 8 ô, chữ được đúc nổi, ở phần thân gần đỉnh chuông có một hàng chữ bằng tiếng Phạn chạy vòng quanh thân, còn ở giữa có các dòng chữ Hán - Nôm được viết theo chiều dọc.

Năm 2009, UBND quận Hải Châu đã khôi phục lại lễ hội Đình làng Hải Châu với mong muốn góp phần mang lại cho người dân Hải Châu nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung trở về với với cội nguồn, với lịch sử của cha ông, quê hương, xứ sở, góp một tiếng nói tích cực trong việc giáo dục lòng tri ân, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”; đồng thời đưa lễ hội Đình làng Hải Châu trở thành một sản phẩm du lịch văn hóa hấp dẫn, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Đến nay lễ hội Đình làng Hải Châu đã tổ chức được 3 lần.

Lễ hội đình làng Hải Châu: diễn ra vào ngày 10/3 âm lịch với nhiều hoạt động nhằm gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa, ngày mà nhân dân khắp nước Việt Nam và đồng bảo ở nước ngoài về Đất Tổ để ghi nhớ công ơn của vua Hùng.
Lễ hội diễn ra gồm có hai phần chính gồm phần lễ và phần hội. Đối với phần lễ thì có lễ Vọng, lễ tế cô hồn diễn; lễ Chánh tế;…Về phần hội thì diễn ra với nhiều hoạt động sôi nổi, hào hứng, đậm đà bản sắc dân tộc, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao như múa lân, thả chim bồ câu, hội thi làm lồng đèn; liên hoan nghệ thuật quần chúng, bao gồm: Hát múa dân ca, thời trang các dân tộc Việt Nam… Ngoài ra, trong phần hội còn diễn ra thi đấu các môn thể thao dân tộc như thi kéo co, đẩy gậy, nhảy bao bố tiếp sức, cờ tướng…

Đình làng Hải Châu được trường THCS Trưng Vương (Hải Châu, Tp. Đà Nẵng) nhận chăm sóc di tích lịch sử văn hóa. Nhà trường đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực như dạy lồng ghép giới thiệu về di tích lịch sử Đình làng Hải Châu trong các môn học Lịch sử, Ngữ văn, Âm nhạc, Mỹ thuật…  trong các tiết dạy lịch sử, văn hóa địa phương, văn hóa dân gian…Tổ chức cho các em học sinh tham gia lễ hội đình làng; tổ chức các lớp lao động dọn dẹp, vệ sinh khuôn viên đình làng, chăm sóc cây cảnh.

Theo CTTĐT TP Đà Nẵng
Du lịch, GO!

Friday, 2 May 2014

(ĐNG) - Đình An Ngãi Đông hiện toạ lạc tại làng An Ngãi Đông, xã Hoà Sơn, huyện Hoà Vang.
Làng An Ngãi Đông ngày nay: bắc giáp làng Vân Dương, nam giáp núi Hố Dầu, đông giáp Khu công nghiệp Hoà Khánh, tây giáp làng An Ngãi Tây. Lưu truyền dân gian cho biết những dòng họ đến đây định cư sớm nhất gồm các họ Nguyễn, Hứa, Lê, Phạm nay mới đến đời thứ 11, căn cứ theo những thông tin trên làng An Ngãi Đông được các dòng họ lập nên cách đây khoảng 300 năm.

Theo người dân kể lại , làng An Ngãi Đông đã qua ba lần dựng đình. Lần đầu dựng ở phía nam làng dưới chân núi Hố Dầu, sau đó dời nhích vể phía bắc và lần cuối cùng là vị trí hiện nay. Mỗi lần chuyển vị trí là mỗi lần thay đổi về qui mô, kết cấu kiến trúc cũng như vật liệu xây dựng.

Đình An Ngãi Đông toạ lạc giữa một khu đất bằng, nằm ở giữa làng. Mặt tiền quay về hướng tây, trước mặt đình là cánh đồng làm yếu tố minh đường thuỷ tụ, trông xa là dãy núi Bà Nà án ngữ.

Đình có công trình kiến trúc chính là toà chính điện. Kiến trúc theo lối nhà rường một gian hai chái, gồm hai bộ vì có năm hàng cột. Tất cả hệ thống cột đều đứng trên đá táng hình quả bí.

Hình thức liên kết cột trong mỗi bộ vì cơ bản là liên kết kèo. Bản chất kỹ thuật của lối liên kết này không phải hiếm gặp mà khá phổ biến  ở đình làng Đà Nẵng nói chung đình An Ngãi Đông cũng có xà cò cong nằm song song phía cây đòn đông và bộ phận cánh dơi trụ trốn đỡ lấy giao nguyên, đứng trên chân tôm. Mái đình lợp ngói âm dương. Nóc mái gắn trang trí hình”lưỡng long triều nguyệt” theo thế hồi long. Các bờ góc gắn các hình tượng khác trong tứ linh và hình giao long. Ở hai đầu bít đốc đều đắp nổi hình dơi và phong cảnh, hoa lá. Tất cả các trang trí trên đều được đắp khảm sành sứ.

Trong nội điện, sát vách tường phía sau xây ba khám thờ: Giữa thờ các vị thẩn trong tín ngưỡng truyền thống, hai bên tả hữu thờ những bậc tiền hiền và hậu hiền có công khai phá, phát triển làng An Ngãi Đông trong quá trình lịch sử, có những câu đối bằng chữ Hán ngưỡng vọng công đức thần thánh, tiền nhân.

Chính ngay giữa gian xây một hương án, tạo các ô bậc trang trí hình đầu rồng (chính giữa) và tứ quý, tứ hữu. Bước qua khoảng sân, trước chính điện, nằm trên trục thần đạo là bức bình phong. Mặt ngoài đắp nổi hình hổ, mặt trong đắp hình long mã khảm sành. Ngoài ra còn có ô nhỏ trang trí hoa lá và tứ hữu.

Cũng như các đình làng khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, hằng năm nhân dân làng An Ngãi Đông đều tổ chức cúng tế thần linh, sinh hoạt hội hề tại đình làng như lễ tế Xuân, tế Thu, lễ Kỹ Kỳ an…

Trong tất cả những ngày lễ nói trên, qui mô nhất là đại lễ ngày 16 tháng 4 (âm lịch). Đây thực sự một kỹ lễ hội trong năm của dân làng. Vào dịp này, ngoài các nghi thức tế tự trang nghiêm, còn có các hoạt động vui chơi giải trí dành cho toàn thể dân làng với những hình thức phong phú đa dạng.

Với đầy đủ đặc tính của một thiết chế văn hoá làng xã Việt, đình làng An Ngãi Đông thực sự là một trung tâm tín ngưỡng, văn hoá của cộng đồng dân làng địa phương. Đó là nơi hội tụ và phản chiếu những giá trị sắc thái văn hoá cổ truyền của nhân dân An Ngãi Đông. Đình làng An Ngãi Đông được công nhận là di tích Lịch sử- Văn hoá cấp thành phố ngày 07/8/2010.

Theo Đà Nẵng.gov
Du lịch, GO!

Tuesday, 29 April 2014

Làng Bồ Bản được hình thành do các vị tiền hiền của tộc Trần, Hồ, Trương, Nguyễn từ các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An vào Nam khai khẩn đất đai lập nghiệp từ những năm cuối thế kỷ XV. Đến đời vua Lê Hiển Tông, niê hiệu Cảnh Hưng (1740- 1786) có thêm các họ Tán, Đinh, Nguyễn, Phạm và trở thành hậu hiền của làng.

< Toàn cảnh đình làng Bồ Bản.

Cùng với quá trình xây dựng và phát triển, dần dần đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, để có nơi thờ thần, tổ chức sinh hoạt lễ hội hằng năm và thờ cúng các vị tiền nhân của làng, nhân dân địa phương đã xây dựng đình làng Bồ Bản.

Đình làng Bồ Bản được xây dựng đầu tiên vào năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Thịnh (1800) bằng tranh tre tại gò miếu Tam Vị nằm về phía đông làng...

Đến năm Nhâm Tý, đời vua Tự Đức thứ 5 dựng đình ở một vị trí mới cách vị trí cũ khoảng 200m về phía Tây, với địa hình thoáng mát phía sau có Gò Miếu cao, bên hữu có Gò Chùa, bên tả có Gò Ổi gọi là “long hổ hội”, phía trước đình là cánh đồng rộng tiếp giáp với làng Cẩm Toại và sông Yên.

Tên đình cũng là tên làng, đình tọa lạc tại thôn Bồ Bản, xã Hòa Nhơn, Huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Trải qua bao thăng trầm của thời gian, thiên tai, bão lụt, ngôi đình đã bị hư hại một phần nên năm 1990, nhân dân tiến hành tu sửa lại đình. Năm 2007, đình Đồ Bản được trùng tu với quy mô lớn từ nguồn ngân sách của thành phố. Đến năm 2011, đình Bồ Bản được xây dựng thêm các công trình ngoại vi như tường thành, cổng tam quan, sân vườn.

Về mặt kiến trúc, đình Bồ Bản có dạng chữ “Nhất”, theo lối ba gian hai chái, mặt quay về hướng Nam. Đình có tất cả có 36 gỗ cột bằng gỗ mít và kiền kiền, trong đó có tám cột cái (cột nhất) cao 4,5m, tám cột hàng nhì cao 3,5m, tám cột hàng ba cao 2,3m, bốn cột đấm, bốn cột quyết và bốn cột ở cửa hông. Trên các thanh trính, kèo được chạm khắc trang trí các mảng đề tài như đầu rồng, tứ thời, tứ quý, cầm kỳ, thi tửu…Với những nét mềm mại, tinh xảo tạo nên những tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Mái đình lợp ngói âm dương. Nóc mái gắn “lưỡng long triều nguyệt “, phần giữa của mái trước có tạo thêm đường gờ cao gắn trang trí các hình loan, phượng, rùa… Hai đầu bít đốc trang trí hình dơi, mai điểu, tùng lộc. Tất cả đều được tạo dáng qua kỹ thuật nề và ghép sành sứ.

Ngoài sân rộng có một bức bình phong lớn, mặt trong trang trí hình rùa, mặt trước là hình long mã, trước hiên có bốn câu đối.

Không chỉ là một thiết chế văn hoá, một công trình kiến trúc- tín ngưỡng cổ truyền tiêu biểu, đình Bồ Bản còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của phong trào cách mạng địa phương.

Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, đoàn biểu tình của tổng An Phước, huyện Hòa Vang xuất phát từ đình làng Cẩm Toại đến tập hợp họp tại sân đình Bồ Bản rồi kéo đi đấu tranh giành chính quyền. Đây cũng là nơi thành lập Uỷ ban Hành chính Kháng chiến xã Bồ Bản, nơi thường xuyên diễn ra những buổi tiếp xúc giữa dân và cán bộ của chính quyền cách mạng thời kỳ đầu còn non trẻ. Đồng thời, là nơi lập phòng phiếu bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Trong kháng chiến chống Mỹ, đình làng Bồ Bản là nơi tổ chức các cuộc họp bàn chủ trương, biện pháp diệt ác, trừ gian. Vào đêm 22/2/1969, lực lượng Trung đoàn 41 phối hợp với Huyện đội Hòa Vang và du kích xã Hòa Phong đã ngoan cường chiến đấu với một tiểu đoàn lính Mỹ và chư hầu có xe tăng, xe bọc thép và pháo binh, máy bay yểm trợ.

Tại ngôi đình này, kẻ địch dã man bắt người già, trẻ em và phụ nữ làm bia đỡ đạn. Trước tình hình đó, quân và dân Hòa Phong kiên cường, anh dũng đánh giáp lá cà với địch. Trong 3 ngày đêm, các lực lượng của ta đẩy lùi 21 đợt tấn công của lính Mỹ, tiêu diệt 300 tên, bắn cháy một xe tăng. Đây là trận đánh ác liệt và ghi dấu chiến công lừng lẫy nhất của quân và dân xã Hòa Phong (Hòa Vang) thời kỳ đánh Mỹ. Trong trận chiến đấu ngoan cường ấy, 30 cán bộ, chiến sĩ của ta đã anh dũng hy sinh...

Hiện nay đình Bồ Bản còn lưu giữ được một bia đá tạo năm Tự Đức thứ 5 (1852) với nhiều nội dung bằng chữ Hán. Đình Bồ Bản được Bộ Văn hoá Thể thao công nhận Di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 01/1999/QĐ-BCHTT ngày 04/01/1999.

Đình làng Bồ Bản được Trường THCS Trần Quốc Tuấn nhận chăm sóc. Mỗi học kỳ, nhà trường tổ chức cho học sinh làm vệ sinh và thắp hương Đình làng một lần. Bên cạnh đó, trường còn tổ chức cho các em tham quan học tập di tích lịch sử ở địa phương như: Đình Bồ Bản, Túy Loan. Qua đó giáo dục ý thức tự hào dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc…

Theo CTTĐT Đà Nẵng
Du lịch, GO!

Sunday, 27 April 2014

Cách cầu Kỳ cùng khoảng nửa cây số (trên đường đi Mai Pha) có núi đá hình voi nhô lên giữa cánh đồng. Đó là núi Đại Tượng, nơi đây có động Chùa Tiên, là một trong bát cảnh mà Ngô Thì Sĩ đã ghi nhận. 

Động Chùa Tiên Nằm ngang chừng núi, lối lên có 64 bậc, cửa phụ quay về hướng đông, có cửa thông hiên, có đường xuống hồ thu thuỷ. Chùa Tiên còn được gọi là chùa Song tiên, được lập vào thời Hồng Đức (1460 - 1497), thuộc hệ phái Bắc tông. Trong động có nhiều thạch nhũ có hình dáng tiên ông , con voi hoặc con dơi bay. Nhiều tấm bia ma nhai của các nhà văn, các danh nhân cũng được thấy ở chùa Tiên này. Đằng sau núi Voi - Chùa tiên ở lưng chừng núi trên mặt bằng đá rộng đó là Giếng tiên, miệng giếng rộng 20cm có mạch nước quý chảy quanh năm.

Chùa nằm trong động, chính giữa có cung Tam Bảo thờ chư Phật, Bồ tát. Cung bên phải thờ vị anh hùng Trần Hưng Đạo, cung bên trái thờ Thánh Mẫu.

Động còn giữ bút tích của Ngô Thì Sĩ ghi trên bia đá bài Trấn doanh bát cảnh (tám cảnh đẹp của xứ Lạng). Chùa Tiên còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như: chuông, hoành phi, câu đối…

Trước kia, chùa Tiên nằm bên cạnh giếng Tiên do nhân dân làng Phai Luông lập vào thời Lê Hồng Đức (1460-1497), sau khi chùa bị hư hại mới chuyển vào động núi Đại Tượng (núi hình con voi). Khi vào chùa Tiên, du khách sẽ thấy một nhũ đá to giống hình người ngồi trên bệ đá lớn. Tương truyền đó chính là tiên ông đã xuống trần dẫm chân xuống đá thành giếng nước, giúp dân chống hạn trong những năm hạn hán. Giếng nước đó gọi là Giếng Tiên, người dân đã lập bàn thờ để thờ tiên ông (Thần Nông).

Chuyện kể rằng: Ngày xưa, vào năm trời hạn hán đến nỗi sông Kỳ Cùng cũng cạn nước, đất đai nứt nẻ, cỏ cây héo khô, ruộng đồng xơ xác, dân làng Phia Luông không có nước dùng.

Bữa nọ, một bầy trẻ chăn trâu trong làng gặp một cụ già ăn mặc xềnh xoàng, dáng rất nghèo khổ đến gặp chúng xin ăn. Lũ trẻ vui vẻ chia phần cơm của chúng cho ông cụ và thành thực nói rằng: chúng cháu chỉ có cơm cho cụ ăn nhưng chẳng biết lấy gì mời cụ uống vì lâu nay làng đã không có nước.

Cảm kích trước tấm lòng thương người của lũ trẻ nên vừa nhận cơm xong, cụ già liền lấy gót chân giẫm xuống tảng đá, lập tức một dòng nước ngọt trong vắt phun lên. Từ đó, dân làng Phia Luông có đủ nước dùng.

Người dân địa phương cho rằng: cụ già đó chính là ông Tiên đã ra tay cứu giúp làng qua cơn hoạn nạn, nên gọi nguồn nước đó là Giếng Tiên. Sau này, người dân địa phương đã lập miếu thờ Tiên ngay cạnh giếng bên sườn đồi Đèo Giang - Văn Vỉ.

Vào ngày 18 tháng giêng hàng năm, ở chùa Tiên thường có lễ hội để tạ ơn các vị tiên đã giúp nhân dân trong những ngày gian khó và khấn Thần, Phật, cầu tài, cầu lộc cho một năm mới nhiều may mắn, mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, cuộc sống an bình, hạnh phúc.

Lễ hội gồm nghi thức khai hội và phần lễ tế. Điều đặc biệt ở lễ hội Chùa Tiên là không được dâng món heo quay (lễ vật thường được dâng cúng ở các lễ hội khác).

Hội Chùa Tiên ngày nay mang tính chất là ngày hội cầu tài, cầu lộc, du xuân vãn cảnh. Chính vì vậy, lễ hội đã vượt khỏi khuôn khổ lễ hội làng. Nhiều du khách ở các vùng lân cận và các tỉnh miền xuôi nô nức đến trẩy hội.

Không chỉ thế, Chùa Tiên còn là danh lam thắng cảnh vào bậc nhất của thành phố Lạng Sơn. Năm 1992, Chùa Tiên đã được Bộ Văn hoá Thông tin đã xếp hạng di tích Quốc gia.

Tổng hợp từ internet
Du lịch, GO!

Lịch sử đăng bài

Powered by Blogger.

Bài đăng mới

Thích thì click!^^

Bải đăng phổ biến