Showing posts with label Động. Show all posts
Showing posts with label Động. Show all posts

Saturday, 24 May 2014

(Zing) - Quần thể Tràng An, Bái Đính, Tam Cốc - Bích Động mang một dáng vẻ đẹp lạ khi được nhìn từ trên cao. 

Tổng diện tích nơi này hơn 4 ngàn ha (chỉ tính vùng lõi), nằm trên địa bàn tám xã, phường thuộc các huyện Hoa Lư, Gia Viễn và thành phố Ninh Bình. Khu du lịch sinh thái này đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng.

Nằm cách Hà Nội gần 100km, trung tâm thành phố Ninh Bình 7km, quần thể du lịch Tràng An gồm chùa Bái Đính, cố đô Hoa Lư, Tam Cốc - Bích Động, bến thuyền Tràng An là nơi thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước.

Vùng lõi Tràng An có diện tích hơn 4.000 ha, là vùng bảo vệ đặc biệt của danh thắng, nằm trọn trong khu rừng đặc dụng Hoa Lư , thuộc quy hoạch bảo tồn cố đô Hoa Lư và cũng thuộc quy hoạch khu du lịch Tràng An với diện tích 12.000 ha.

Trong quần thể danh thắng Tràng An có nhiều hang động được công nhận là di tích khảo cổ học, chúng đang được các nhà khoa học Anh tiến hành nghiên cứu về dấu tích của người tiền sử từ hàng chục nghìn năm.

Mỗi hang một vẻ đặc trưng như tên gọi, bên trong có nhiều nhũ đá biến đổi, nước từ trần hang chảy ra khiến cho không khí mát lạnh.

Cả quần thể còn là một vùng non nước, mây trời hoà quyện, đáy nước trong xanh soi bóng những vách núi đá trùng điệp.

Nơi đây có tới 31 đầm, hồ nước được nối thông bởi 48 hang động đã được phát hiện trong đó có những hang xuyên thủy dài 2 km như hang Địa Linh, hang Sinh Dược, hang Mây.

Ðiều diệu kỳ ở danh thắng này là các hồ được nối liền với nhau bởi các gạch nối là các động xuyên thủy có độ dài, ngắn khác nhau.

Những hang, động này chuyển tải nước đối lưu chảy thông từ khe núi này đến khe núi kia. Núi giăng thành luỹ bao bọc quanh hồ nước và ở giữa nổi lên khu đất với rừng cây mọc thành đảo.

Tràng An này là đại diện di sản của Việt Nam ứng cử di sản thế giới với những giá trị nổi bật về cảnh quan thiên nhiên, lịch sử văn hóa và kiến tạo địa chất.

Ngoài ra nó còn được kỳ vọng trở thành một di sản thế giới hỗn hợp với cả 2 tiêu chí văn hóa và thiên nhiên đầu tiên tại Việt Nam, và cũng là địa danh được đầu tư để trở thành một khu du lịch tầm cỡ quốc tế.

Du khách đến với Tràng An có thể tham quan hành trình xuyên thủy động khép kín mà không phải quay ngược lại.

Các dãy núi, hồ nước và hang động tạo thành một thế trận liên hoàn. Mỗi hồ là một bức tranh thủy mặc khác nhau về thế núi, dáng núi và hồ nước.

Theo Mạnh Thắng - Hoàng Anh (Zing New)
Du lịch, GO!

Saturday, 10 May 2014

Hang động Na Côm nằm ở lưng chừng núi có tên Chu Ta (theo tiếng địa phương Chu Ta có nghĩa ong khoái) thuộc bản Na Côm, xã Hẹ Muông, huyện Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ hơn 30km về phía Nam. 

Với vẻ đẹp kỳ vĩ với bao điều bí ẩn, hang động Na Côm chính là tuyệt tác nghệ thuật của thiên nhiên, nơi có thể thỏa mãn niềm đam mê khám phá của những người yêu thiên nhiên, ưa du lịch.
Hang dài hơn 500m, gồm 2 khoang uốn theo hình chữ S. Cửa hang nhỏ, để vào được bên trong du khách phải nằm nghiêng chui người qua.

Khoang bên ngoài thoáng, rộng. Phía trên vòm gần cửa có một khoảng trống nhỏ tạo thành giếng trời, ánh sáng hắt vào làm cho không gian ở khoang ngoài thêm phần mờ ảo, lung linh. Trần và 2 bên vách động là các dải nhũ đá rủ xuống lấp lánh. Nhiều khối thạch nhũ tạo hình đẹp mắt thành thác nước, tượng Phật, tiên nữ... Dưới nền động là những viên cuội tròn màu trắng hay những cột nhũ đá, cối đá, măng đá muôn hình muôn vẻ với nhiều hình thù kỳ lạ.

Khoang thứ 2 cao hơn khoang thứ nhất. Trong hang nơi rộng nhất 25 - 30m, cao 18 - 20m, nhiều khoang rộng giống như một hội trường lớn có thể chứa trên 300 người. Trong động là vô số đá cuội, nhũ đá… với màu sắc đa dạng, hình thù phong phú, sinh động, đẹp mắt tựa như mâm xôi, hoa quả đủ màu sắc, ruộng bậc thang uốn lượn như san hô nối tiếp nhau từ gần đến xa hay những chiếc giếng nước… đã tạo nên nét quyến rũ riêng, gây ấn tượng mạnh với du khách.

Bên cạnh hang động Na Côm, nơi đây còn quyến rũ du khách với phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, kỳ vĩ, vẻ đẹp của những dãy ruộng bậc thang với nếp sinh hoạt truyền thống của bà con dân tộc. Du khách có thể khám phá nét đẹp văn hóa độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc như dệt thổ cẩm, rượu Mông Pê, khèn môi…

Để có cơ sở pháp lý bảo vệ và đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, khám phá, tham quan, góp phần vào việc phát huy tiềm năng thế mạnh phát triển du lịch, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, UBND tỉnh Điện Biên đã chỉ đạo Sở VH,TT&DL, UBND huyện Điện Biên thành lập tổ bảo vệ, tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá tới công chúng, đồng thời tiến hành lập hồ sơ khoa học trình Bộ VHTT&DL công nhận di tích danh lam thắng cảnh cấp quốc gia.

Trên cơ sở đó tăng cường gắn kết việc phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của địa phương với di sản văn hóa vật thể, xây dựng; liên kết với các đơn vị kinh doanh xây dựng các tour, tuyến du lịch gắn kết với các điểm di tích, danh thắng.

Theo báo Tây Ninh
Du lịch, GO!

Tuesday, 6 May 2014

Ngày 6.5, Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết đoàn thám hiểm của Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh hợp tác với Trường ĐH Khoa học tự nhiên Hà Nội và Ban quản lý Vườn đã có báo cáo chuyến khảo sát, thám hiểm các hang động trong lâm phận vườn.

Theo đó, trong lần thám hiểm thứ 16 từ ngày 16.3 - 25.4, đoàn ghi nhận thêm 39 hang động, với tổng chiều dài 17 km, nâng số kilomet hang động được khảo sát lên 200 km. Số hang động này đã được đo, vẽ, ghi lại bằng hình ảnh, tọa độ và những thông số này được chuyển lên bản đồ hang động của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Trong số đó có 3 hang động mới có ý nghĩa là hang Mây dài 1.100 m, sâu 200 m; hang Vực Mới sâu 213 m và hang Lan dài 1.230 m.

Ngoài ra còn có một số hang giá trị khác như A Ky ở phía đông đường 20 có chiều dài 1.260 m, có một dòng suối trong hang chảy ra; một điểm độc đáo nữa là hệ thủy văn của hang bắt nguồn từ Lào.

Phía tây đường 20 tại Km 24, đoàn phát hiện hang Vực Thê có 9 cấp, sâu 207 m. Hang Tú ở phía tây đường Hồ Chí Minh, đoạn Km 14 thuộc dạng thẳng đứng với 2 bậc, có chiều dài 444 m. Ngoài hệ thống hang động kỳ vĩ, đoàn thám hiểm cũng thu được những kết quả quan trọng về hệ thống thủy văn trong khu vực. Từ các dữ liệu khám phá, đoàn khẳng định Phong Nha - Kẻ Bàng có hệ thống hang động quan trọng bậc nhất của khu vực và thế giới.

Theo Trương Quang Nam (báo Thanh Niên)
Du lịch, GO!

Sunday, 4 May 2014

Hang Phương Thiện thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, cách thị xã Hà Giang 7km xuôi về phía Nam.

Hang Phương Thiện nằm cách thị xã Hà Giang 7km về phía Nam, là nơi có nhiều phong cảnh đẹp tự nhiên rất hấp dẫn như hang Dơi, hang Lăng Cô, hang Phương Thiện. Hang Phương Thiện là sự kết hợp hài hòa, độc đáo giữa khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng bên ngoài và sự huyền ảo, kỳ bí bên trong.

Khách đến tham quan hang Phương Thiện sẽ có cơ hội tận hưởng khí hậu trong lành và không gian thoáng đãng, đem đến cảm giác thư thái, sảng khoái, cách xa sự ồn ào, bụi bặm của phố phường.

Du khách có thể tìm kiếm tất cả các dịch vụ từ ăn uống, nghỉ ngơi, đến mua sắm, vui chơi tại thị trấn Vị Xuyên, thị trấn Nông Trường Việt Lâm của huyện hay tại thị xã Hà Giang cách đó khoảng 7 km.

Tại đây du khách có dịp thưởng thức các loại trái cây đặc sản của vùng cao như: mận, lê, cam, táo... Một đặc sản nữa là chè Tuyết san cổ thụ, giống cây chỉ sống ở độ cao trên 900m.

< Trên đường khám phá hang Phương Thiện.

Các địa điểm du lịch ở gần có thể kể như Đỉnh Lũng Cú, Núi đôi Quản Bạ, Suối tiên, Bãi đá cổ Nấm Dẩn, Chùa Bình Lâm, Chùa Sùng Khánh, Dinh thự vua Mèo họ Vương, Mã Pí Lèng,… là những điểm du lịch chắc chắn làm cho chuyến đi của bạn trở nên ý nghĩa và hoàn hảo hơn.

Tổng hợp từ internet
Du lịch, GO!

Thursday, 1 May 2014

Động Hua Mạ (Đầu Ngựa) hay còn gọi là Động Treo, động Lèo Pèn nằm cách hồ trung tâm Vườn Quốc gia Ba Bể khoảng 10km về phía Nam. Sở dĩ, Hua Mạ được gọi là Động Treo bởi hang động này nằm ở lưng chừng núi, có độ cao so với mặt nước biển là 350m, chiều dài hơn 700m, sâu dưới 60m.

Muốn lên động, du khách phải leo chừng 300m theo các bậc cầu thang trên sườn núi dốc thoai thoải. Cửa động Hua Mạ nhìn ra một vùng nước non xanh biếc của hồ và rừng Ba Bể cùng với con sông Lèng êm ái chảy qua. Cửa động Hua Mạ nhìn ra một vùng nước non xanh biếc của hồ và rừng Ba Bể cùng với con sông Lèng êm ái chảy qua. Không chỉ là nơi sơn thủy hữu tình, động Hua Mạ còn nổi tiếng với những huyền sử kỳ bí. Để vào được động phải qua một cửa nhỏ rộng 3m, cao 5m, nhưng chỉ cần đi qua cửa vài chục bước chân, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước không gian động được mở rộng.

Trong động, không gian thoáng đãng do lòng hang rộng và thông nhau tạo cho du khách cảm giác mát mẻ, dễ chịu. Bước xuống bậc thang đá, lòng hang còn lưu giữ nhiều tầng lớp của đá vôi hóa thạch màu trắng, thuộc loại đá hoa cương Ba Bể.

Dưới đáy động là một bãi đá đổ khổng lồ dài khoảng 150m. Ở đây có dấu vết của thác nước. Trần động có chỗ rộng và cao tới 40 - 50 m. Bên trong có nhiều nhũ đá muôn hình vạn trạng, đầy kỳ bí, lung linh, huyền ảo.

Nhũ đá từ phía trên hang rủ xuống, từ mặt đất nhô lên, thấp - cao, dài - ngắn, ngang - dọc đủ cả, tạo cảm giác rất thú vị. Mỗi nhũ đá hiện ra với dáng vẻ khác nhau, vô cùng sinh động: Chỗ thì giống thủy cung, nơi lại như hoàng cung trong một buổi thiết triều; chỗ lại giống cảnh thầy trò Đường Tăng trên đường sang Tây Trúc, chỗ thì hình tháp bút, nơi lại giống đóa sen…

Cách cửa hang khoảng 15m, trong đống đá đổ lẫn đất sét màu xám đỏ và tro, các nhà khảo cổ học đã từng phát hiện các công cụ bằng sành có hoa văn từ thời Lê, nay đã được quy tập về các bảo tàng. Trong lòng hang động, hàng vạn nhũ đá, rèm đá, cột đá, phiến đá với đủ các kiểu dáng kỳ dị được hình thành ngay từ cửa hang cho đến cuối hang. Điều đặc biệt, chúng như được bài trí, sắp xếp một cách tự nhiên nhưng vô cùng hợp lý.

Những nhũ đá, cột đá tạo thành hình những bức tượng thiên nhiên như tượng người ngồi câu cá hay có những đoạn các nhũ đá xếp ngay ngắn giống như một buổi thiết triều với đầy đủ văn võ bá quan...

Những hốc hang nhỏ bên trong cũng có những dáng hình kỳ lạ, làm tăng thêm phần huyền bí cho hang động tuyệt đẹp này. Lòng hang được chia làm nhiều phòng bởi các rèm đá, nhũ đá ngăn cách tự nhiên thông với nhau qua một hành lang quanh co, lúc ẩn lúc hiện trong ánh sáng mờ mờ hư ảo khiến cho du khách có cảm giác như đang lạc bước vào cõi thiên thai.

Động Hua Mạ có nhiều huyền thoại ly kỳ. Truyện kể rằng ở khu vực rừng “Lèo Pèn” tiếng Tày có nghĩa là Rừng Ma, nơi ma quỷ ngự trị có một sơn động lạ trên lưng núi. Ngày ngày, cứ chiều tà, tiếng kêu hú từ phía động vọng ra khiến dân chúng trong vùng không ai dám đến gần.

Một ngày cuối năm, có một vị tướng đi tuần qua, khi đến bờ sông Lèng, trời đã gần tối. Đoàn người ngựa định sang bản bên để nghỉ lại, nhưng lạ thay khi qua sông, cứ xuống đến mép nước ngựa lại quay đầu trở lại, hí vang như báo hiệu một điều gì đó. Cùng lúc đó từ phía động Lèo Pèn có tiếng hú vọng ra. Thấy sự việc lạ, vị tướng cho gọi dân làng đến hỏi thì được biết tiếng kêu đó là những oan hồn của dân binh đã cùng triều đình chống giặc, thế giặc mạnh nên họ đã cố thủ trong hang. Bọn giặc không làm gì được đã phá sập cửa hang, do đó những oan hồn không được siêu thoát cứ lởn vởn trong hang hú hét.

Hiểu rõ sự tình, quan quân liền hạ trại ngay cạnh bờ sông Lèng và mổ ngựa, lấy đầu ngựa làm lễ tế trời đất. Lạ thay, khi lễ tế vừa xong thì tiếng oan hồn trong động cũng im dần rồi mất hẳn. Từ đó, động Lèo Pèn có tên gọi là động Hua Mạ (theo tiếng Tày có nghĩa là động Đầu Ngựa). Cũng từ đó, trong động không còn những âm thanh kỳ lạ và huyền bí.

Động Hua Mạ đã được tỉnh Bắc Kạn đưa vào khai thác từ năm 2004, thuộc quần thể danh thắng hồ Ba Bể trong Vườn Quốc gia Ba Bể. Tuy nhiên, động Hua Mạ đến nay vẫn chưa thu hút được nhiều khách du lịch, một phần là do hạ tầng giao thông tuy đã được nâng cấp nhưng vẫn còn rất kém. Từ hồ Ba Bể vào, đoạn đường chỉ gần 6 km, nhưng xe ô tô 4 chỗ phải đi mất khoảng 20 đến 25 phút.

Tổng hợp từ ANTG và nhiều nguồn khác
Du lịch, GO!

Sunday, 27 April 2014

Cách cầu Kỳ cùng khoảng nửa cây số (trên đường đi Mai Pha) có núi đá hình voi nhô lên giữa cánh đồng. Đó là núi Đại Tượng, nơi đây có động Chùa Tiên, là một trong bát cảnh mà Ngô Thì Sĩ đã ghi nhận. 

Động Chùa Tiên Nằm ngang chừng núi, lối lên có 64 bậc, cửa phụ quay về hướng đông, có cửa thông hiên, có đường xuống hồ thu thuỷ. Chùa Tiên còn được gọi là chùa Song tiên, được lập vào thời Hồng Đức (1460 - 1497), thuộc hệ phái Bắc tông. Trong động có nhiều thạch nhũ có hình dáng tiên ông , con voi hoặc con dơi bay. Nhiều tấm bia ma nhai của các nhà văn, các danh nhân cũng được thấy ở chùa Tiên này. Đằng sau núi Voi - Chùa tiên ở lưng chừng núi trên mặt bằng đá rộng đó là Giếng tiên, miệng giếng rộng 20cm có mạch nước quý chảy quanh năm.

Chùa nằm trong động, chính giữa có cung Tam Bảo thờ chư Phật, Bồ tát. Cung bên phải thờ vị anh hùng Trần Hưng Đạo, cung bên trái thờ Thánh Mẫu.

Động còn giữ bút tích của Ngô Thì Sĩ ghi trên bia đá bài Trấn doanh bát cảnh (tám cảnh đẹp của xứ Lạng). Chùa Tiên còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như: chuông, hoành phi, câu đối…

Trước kia, chùa Tiên nằm bên cạnh giếng Tiên do nhân dân làng Phai Luông lập vào thời Lê Hồng Đức (1460-1497), sau khi chùa bị hư hại mới chuyển vào động núi Đại Tượng (núi hình con voi). Khi vào chùa Tiên, du khách sẽ thấy một nhũ đá to giống hình người ngồi trên bệ đá lớn. Tương truyền đó chính là tiên ông đã xuống trần dẫm chân xuống đá thành giếng nước, giúp dân chống hạn trong những năm hạn hán. Giếng nước đó gọi là Giếng Tiên, người dân đã lập bàn thờ để thờ tiên ông (Thần Nông).

Chuyện kể rằng: Ngày xưa, vào năm trời hạn hán đến nỗi sông Kỳ Cùng cũng cạn nước, đất đai nứt nẻ, cỏ cây héo khô, ruộng đồng xơ xác, dân làng Phia Luông không có nước dùng.

Bữa nọ, một bầy trẻ chăn trâu trong làng gặp một cụ già ăn mặc xềnh xoàng, dáng rất nghèo khổ đến gặp chúng xin ăn. Lũ trẻ vui vẻ chia phần cơm của chúng cho ông cụ và thành thực nói rằng: chúng cháu chỉ có cơm cho cụ ăn nhưng chẳng biết lấy gì mời cụ uống vì lâu nay làng đã không có nước.

Cảm kích trước tấm lòng thương người của lũ trẻ nên vừa nhận cơm xong, cụ già liền lấy gót chân giẫm xuống tảng đá, lập tức một dòng nước ngọt trong vắt phun lên. Từ đó, dân làng Phia Luông có đủ nước dùng.

Người dân địa phương cho rằng: cụ già đó chính là ông Tiên đã ra tay cứu giúp làng qua cơn hoạn nạn, nên gọi nguồn nước đó là Giếng Tiên. Sau này, người dân địa phương đã lập miếu thờ Tiên ngay cạnh giếng bên sườn đồi Đèo Giang - Văn Vỉ.

Vào ngày 18 tháng giêng hàng năm, ở chùa Tiên thường có lễ hội để tạ ơn các vị tiên đã giúp nhân dân trong những ngày gian khó và khấn Thần, Phật, cầu tài, cầu lộc cho một năm mới nhiều may mắn, mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, cuộc sống an bình, hạnh phúc.

Lễ hội gồm nghi thức khai hội và phần lễ tế. Điều đặc biệt ở lễ hội Chùa Tiên là không được dâng món heo quay (lễ vật thường được dâng cúng ở các lễ hội khác).

Hội Chùa Tiên ngày nay mang tính chất là ngày hội cầu tài, cầu lộc, du xuân vãn cảnh. Chính vì vậy, lễ hội đã vượt khỏi khuôn khổ lễ hội làng. Nhiều du khách ở các vùng lân cận và các tỉnh miền xuôi nô nức đến trẩy hội.

Không chỉ thế, Chùa Tiên còn là danh lam thắng cảnh vào bậc nhất của thành phố Lạng Sơn. Năm 1992, Chùa Tiên đã được Bộ Văn hoá Thông tin đã xếp hạng di tích Quốc gia.

Tổng hợp từ internet
Du lịch, GO!

Monday, 21 April 2014

(BQB) - Vùng núi Phong Nha – Kẻ Bàng được biết đến qua những trang sách lịch sử, địa chí dưới thời nhà Nguyễn.

Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn trong phần tỉnh Quảng Bình có nói đến Núi Phong Gia: “Ở cách huyện Bố Chính 40 dặm về phía tây bắc, vách đá cheo leo, phía bắc kề sông cái, phía tây là núi Tiên Cốc (Hang Tiên)”.

Cũng theo sách trên, ở đây có động Thầy Tiên, lại có tên là động Núi Thầy, “lưng động dốc như vách, âm u sâu thẳm; trong động thạch nhũ rủ xuống, hoặc như cây hoa, hoặc như chuỗi ngọc. hoặc như tượng phật, hoặc như gấm vóc, phong cảnh thanh u... Triều trước phong sắc làm thần Hiển Linh, ban cấp cho đồ thờ, chép vào điển thờ, sau trải qua binh cách, bị bỏ lâu, đến năm Minh Mệnh thứ 5, gia phong thần Ưng Diệu”.

Tuy vậy, thám sát động Phong Nha một cách bài bản kèm theo những công trình nghiên cứu khá công phu được đăng tải phải kể đến những cuộc thám hiểm của người phương tây đầu thế kỷ XX. Bài viết "Một cuộc du ngoạn ở động Phong Nha" (Excursion aux de Phong Nha) của P. A (giáo sư P. Antoine) đăng trong Tạp chí Extreme Asie số 34 năm 1929 kể về cuộc thám hiểm Phong Nha kéo dài 4 ngày đêm trong động.

Theo P. Antoine đây là lần thứ hai ông tới động Phong Nha. Lần trước ông chỉ xem qua loa và chỉ mới đi vào được hai động bên ngoài theo bản đồ hướng dẫn của Madrolle và bản báo cáo của nhà thiên văn học người Anh, ông Barton tại sở Du lịch Huế. Như vậy trước chuyến thám hiểm lần hai này của P.Antoine đã có hai cuộc thám hiểm của người Pháp, ông Madrolle và của người Anh, ông Barton. Theo tài liệu sau này của ông Boufỉe cho biết thì ông Barton đã ở trong động suốt 14 ngày.

Trong bài viết của P.Antoine có những chi tiết đáng quan tâm. Trước hết là việc thờ cúng ở Phong Nha, P.A viết: “Trong gian thứ nhất, ở bên phải, dưới vòm hang có ba cái bàn thờ nhỏ như thường thấy ở trong các chùa khác. Nhiều tàn hương và giấy bạc rải rác trên mặt đất chứng tỏ rằng những vị thần của động này được nhiều tín đồ thờ phụng cúng bái. Vả lại động Phong Nha cũng được dân chúng địa phương gọi là chùa Hang. Ông từ giữ chùa ở cách đó 200 mét, trong một túp lều hẻo lánh giữa dãy đá hình bán nguyệt, trên hữu ngạn con sông”.

Cuộc thám hiểm của P.A lúc bấy giờ hết sức khó khăn, vất vả. Họ phải đi bằng bè và dùng đến hàng trăm bó đuốc. Chỉ có thám hiểm ba gian hầm theo tuyến chúng ta đi du lịch ngày nay họ phải mất 4 ngày đêm. Từ gian hầm số hai sang gian hầm số ba (theo cách gọi của P.A) chỉ dài 400 mét mà họ phải trải qua 3 giờ đồng hồ và dùng hết 50 bó đuốc. Ở gian hầm Khắc Chữ (lưu niệm) ngày nay ta gọi là Hang Bi Ký P.A đã khảo sát khá kỹ và ông đã bắt gặp những chữ Chàm được khắc trên đá ở một khe khá sâu không lối thoát. Tuy đã cố gắng tìm con đường thoát để tiếp tục cuộc du ngoạn nhưng cuối cùng họ chỉ có lối thoát duy nhất là quay lại theo hướng đông nam để ra cửa hang.

Tháng 5 năm 1929, ông M. Bouffier cùng các ông Charly, Pasqualaggi tổ chức một cuộc thám hiểm khác nhằm mục đích “tiếp tục cuộc thám hiểm trước chúng tôi đã đến nhưng phải dừng lại”. Theo Boufier, đoàn của ông không nghiên cứu sâu và chi tiết những điều đã được khám phá trước đây mà chính là tìm ra nguồn gốc con suối từ trong động chảy ra bằng cách theo con suối đó cho đến tận cùng để “cố gắng chứng minh giả thiết – có nhiều khả năng đúng đắn – cho rằng có một khúc suối lộ thiên nối liền với khúc suối ngầm trong động”, đó là con suối có tên là Rào Te nằm ở phía tây nam được ghi trên bản đồ hay không?

Cuộc thám hiểm của Boufier chỉ kéo dài trong 3 ngày nhưng phương tiện chuẩn bị khá đầy đủ. Đoàn của ông đi bằng hai thuyền độc mộc chở đầy các bó đuốc, 6 hộp các buya cung cấp chất đốt cho 3 cây đèn đất, nửa tá bao sáp, hai đèn bão thắp bằng dầu hỏa, 2 ngọn đèn điện, 1 chạy bằng máy điện, 1 chạy bằng pin (có 6 cặp pin dự trữ, mỗi cặp dùng trong 10 giờ). Đoàn của Boufier tiến vào sâu hơn lộ trình của P. Antone, theo như bản báo cáo thì ông đã vào hang số 4 nghe tiếng reo của một ngọn thác và đột ngột chảy xuống một ngọn suối. Ở đây họ gặp những cành cây trôi dạt nghi ngờ sự nối thông với một dòng suối lộ thiên bên ngoài nhưng họ cũng không thể đi đến ngọn nguồn. Ngày nay, với việc khảo sát của Hội Hang động Hoàng gia Anh thì việc chứng minh sông ngầm trong động Phong Nha là một hệ thống sông ngầm được nối thông với hệ thống sông suối lộ thiên là điều hiển nhiên nhưng những cố gắng của đoàn thám hiểm của Boufier tại thời điểm đó là một cố gắng lớn.

Ngoài Phong Nha, nhiều nhà thám hiểm cũng đã thám sát một số hang động trong dãy núi đá vôi Kẻ Bàng. Đáng chú ý là cuộc thám hiểm hang Đen (Trou Noir), nay gọi là hang Tối của E. Suluy. Theo ông, Hang Đen lúc đó nhiều người chưa biết đến nhưng dân làng Phường Chày, cũng như ngư dân hoặc người ở thuyền đi lại trên sông Troóc đều biết. Trong bài viết của E. Suluy “La Grotte du Trou Noir” đăng trên tạp chí Extrem- Asie số 63 năm 1930 ông đã kể tường tận cảnh quang của hang Tối mà ngày nay, khi chúng ta đưa tuyến du lịch này vào khai thác vẫn chưa thám sát hết được. Trong bài viết, Suluy cho biết, khi hoàng hôn buông xuống rất nhiều đàn vịt trời và vượn vào hang trú qua đêm và “một tiếng gầm thứ hai cũng khàn khàn và oai nghiêm như tiếng thứ nhất hình như ra lệnh cho tất cả yên lặng. Vịt trời và vượn đều im tiếng...”. Vào cửa hang, đoàn của ông tiến sâu vào bên trong họ bắt gặp nhiều dấu chân của thú dữ hổ, báo và gấu. Đến bãi cát có khe nước nhỏ (nơi mà ngày nay chúng ta chỉ đưa du khách đến đây) đoàn thám hiểm tiến sâu vào bên trong họ gặp những đống đất đá sụt lở to lớn, theo ông đó là loại đá vôi mềm pha đất sét.

Trong khung cảnh kỳ lạ và dễ kích động óc tưởng tượng, Suluy viết: “Người ta lúc nào cũng tưởng chừng xuất hiện đột ngột những cặp xương người sẵn sàng ôm nhau nhảy điệu vũ khúc thần chết của Siat Saens theo tiếng nhạc hỗn loạn của những hòn đá phát ra âm điệu và do một nhạc trưởng đánh nhịp...”. Và sau đó họ gặp những tảng đá phát ra âm thanh rung chuyển rất dễ sợp như Bản nhạc ma quái và Điệu vũ khúc của thần chết. Khác với cảnh quan tuyệt đẹp của những nhủ đá ở Phong Nha, ở hang Tối đó là bóng đêm và những âm thanh kỳ quái. Suluy viết: “Tôi nghe thấy những tiếng than thở kỳ quái, những tiếng rơi, những tiếng thì thầm. Xung quanh tôi, cảnh vật đang va chạm vào nhau, làm vang lên những tiếng động cụt ngủn... Bỗng nhiên một tiếng cười vang lên, inh ỏi và ngắn ngủn, như một tiếng lênh, theo sau là một giọng hát đều đều, vô cùng buồn bã, vừa chán nản vừa ngọt ngào. Điệu hát ấy tràn ngập tâm hồn chúng tôi dần dần như vuốt ve, đầu độc. Trong chốc lát điệu hát ấy hòa lẫn tiếng nước chảy, len vào bóng tối, than vãn, với những tiếng nức nở, rồi tan dần, biến vào đâu tôi không biết...”.

Theo mô tả của Suluy thì hang Tối là một hang động đầy bí ẩn, vì thế, ngày nay trong việc khai thác tuyến du lịch này những người quản lý du lịch ở Phong Nha – Kẻ Bàng cần phải có sự khảo sát thận trọng.

Đối với Phong Nha - Kẻ Bàng, công việc thám sát, hang động thiên nhiên luôn là đề tài hấp dẫn cho những nhà khoa học, những nhà thám hiểm đầu thế kỷ XX. Nhưng, không chỉ có vậy, những chủ nhân của vùng Phong Nha – Kẻ Bàng cũng là đối tượng nghiên cứu của họ. Đáng chú ý, trong đó có công trình nghiên cứu văn hóa của L. Cadiere với tác phẩm Những phong tục tập quán của người dân vùng thung lũng nguồn Son. Leopold Michel Cadier là một linh mục truyền giáo nhưng ông đã có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa, lịch sử vùng đất Quảng Bình nói riêng và cả nước nói chung. Người ta ghi nhận ông là nhà Việt Nam học người nước ngoài đầu tiên để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị. Trong thời gian làm mục vụ ở xứ Cù Lạc ông đã nghiên cứu phong tục tập quán của người dân ở đây và đã viết công trình khảo cứu nói trên.

Đọc lại tập khảo cứu Những phong tục tập quán của người dân vùng thung lũng nguồn Son chúng ta thực sự ngỡ ngàng vì sự hiểu biết đến tường tận từng đời sống của người dân nơi đây mà nếu không có một sự thâm nhập vào đời sống và tâm tư của người dân thì không thể nào viết được. Từ phong tục thờ cúng thổ thần, đất đai đến việc sinh đẻ, đặt tên con đều được ông trình bày một cách tường tận. Những tập quán sinh hoạt trong dân gian như làm nhà, đóng thuyền, dựng cây nêu; dùng thành ngữ để chỉ thời gian cho đến những bài hát ru con, trò chơi đồng dao cho đến những tục kiêng cử trong đời sống hàng ngày đều được ông tập hợp một cách đầy đủ. Xin đơn cử một số phong tục, tập quán đã được Cadier nghiên cứu.

Những phong tục tập quán trong việc sinh đẻ được Cadier trình bày một cách có hệ thống. Đó là tục thờ Bà Mụ - vị thánh đỡ đầu người mẹ; tục xin quẻ trước khi đứa bé ra đời; tục xin sữa người đàn bà khác cho đứa bé bú những giọt sữa đầu tiên. Sau khi đứa con ra đời các phong tục kiêng cử như đổ phòng long, đi chợ mày xưa và đến việc đặt tên con đều được ông trình bày cụ thể từng chi tiết. Đọc Cadier, ta bắt gặp những từ ngữ xưa, không những người dân vùng sông Son mà các địa phương khác trong tỉnh sử dụng nay chỉ còn trong ký ức. Đứa bé đang ngủ người ta không nói ngủ mà nói “théc”; đứa bé ốm (đau) người ta không dùng từ đau mà dùng cụm từ “không nhỡi”; đứa bé chết người ta không dùng từ chết mà nói “hắn bỏ tui mà đi”... Cadier cho rằng, những người dân nơi đây họ yêu quý con từ thuở lọt lòng nên “sợ tất cả những điềm gở cho đứa bé mới sinh ra sau này hoặc cho những đứa còn sống”. Sự lo lắng của người mẹ (và cả của người cha) đối với đứa trẻ sơ sinh còn thể hiện ở việc đặt tên con sao cho dễ nuôi, đem “bán con” (gửi con) cho ông phó rèn, ông thầy phù thủy trong làng... tất cả những phong tục tập quán đó thể hiện một tình yêu sâu nặng đối với con trẻ, lo lắng đối vơi sinh linh bé nhỏ trong một điều kiện của những người nghèo khó “dễ sinh khó dưỡng”.

Khi đứa trẻ lớn lên, trong điều kiện nghèo khó, ngoài việc quan tâm đến sức khỏe người mẹ ở vùng nay còn quan tâm đến việc giáo dục tâm hồn trẻ thơ. Cadier viết: “Phàm những ai đã đến thăm đất nước An Nam, khi đi qua các xóm làng, thảy đều nghe những giọng hát ngân nga, âm điệu đôi lúc nhịp nhàng của người mẹ, người chị cả vừa hát vừa đưa võng ru đứa em nhỏ của mình. Trong những bài hát ru em đó, có nhiều câu thực sự có vẻ đẹp nên thơ. Tôi chỉ dẫn ra một ít câu, những câu rất ngắn nhưng rất đáng chú ý bởi những tình cảm hồn nhiên trong đó, của những tư tưởng trong đó, những câu hát thích hợp với đầu óc hiểu biết ít ỏi của đứa bé”. Ngoài những câu hát ru điển hình Cadier còn sưu tầm những trò chơi và những câu hát đồng dao của trẻ em vùng sông Son.

Trong công trình nghiên cứu này, Cadier còn trình bày những phong tục tập quán khác như phong tục ngày Tết, phong tục thờ cúng tổ tiên ông bà. Đặc biệt, đáng chú ý là những nghiên cứu của Cadier về cách dùng thành ngữ để chỉ thời gian của cư dân nông nghiệp, ngư nghiệp ở vùng sông Son. Vào thời đó người dân nơi đây không có đồng hồ để chỉ thời gian người ta dùng những thành ngữ để xác định thời điểm. Những thành ngữ chỉ thời gian này thường gắn liền với công việc đồng áng hàng ngày. “Bữa cày mai” chỉ khoảng thời gian buổi sáng; “Nửa buổi cày” chỉ khoảng 8 giờ sáng; “Khi đứng bữa cày” là cuối bữa cày khoảng 10,11 giờ; “Khi mở trâu cày”, “Khi lùa trâu về”... là những thời điểm xác đinh trong ngày. Ban đêm, xác định thời điểm là lúc “tắt mặt trời”, “buổi đỏ đèn”, “gà gáy đầu”, “gà gáy lại”, “gà gáy sáng”.

Đối với người làm nghề chài lưới thì thời điểm chạng vạng, rạng đông có ý nghĩa quan trọng như trong câu tục ngữ: “Tôm đi chạng vang/Cá đi rạng đông”. Việc xác định khoảng cách thời gian của người dân trong vùng cũng được ông nghiên cứu như “Đi khoảng chừng một nồi cơm là đến”, “Hút một điếu thuốc đến nơi chơ mấy” là nói đến khoảng thời gian nấu chín một nồi cơm, hút hết một điếu thuốc. Hoặc như nói “Ở đây ra bến, hai vai là đến” là nói khoảng thời gian đi phải trở vai khi gồng gánh.

Những nghiên cứu của L. Cadier về phong tục tập quán của cư dân vùng thượng nguồn sông Son cho ta hiểu rõ hơn những chủ nhân bản địa của Phong Nha – Kẻ Bàng và từ đó có chiến lược phát triển du lịch sinh thái cộng đồng bảo vệ Di sản thiên nhiên thế giới này một cách bền vững.

Theo Báo Quảng Bình
Du lịch, GO!

Sunday, 13 April 2014

(HYO) - Động Tiên là một quần thể hang động bao gồm: Động Thiên đình, động Đàn đá, động Thiên cung, động Tam cung, động Thạch sanh, động Âm phủ, thần Kim quy… một thắng cảnh thiên nhiên kỳ thú nằm ở địa bàn thôn 2, Thống Nhất xã Yên Phú - huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang. Động nằm cách trục đường quốc lộ số 2 về phía bên phải chừng 200m rất thuận tiện cho du khách thập phương ghé thăm. Đến đây, du khách sẽ được thưởng thức vẻ đẹp hoang sơ kỳ vĩ với cỏ cây hoa lá đẹp như cái tên mà dân gian đặt cho.

Đến thăm Động Tiên, du khách không khỏi ngạc nhiên trước những cảnh đẹp hoang sơ của thiên nhiên. Theo từng bậc đá lên cao đến cạnh một ngã ba, rẽ phải, bước tiếp mấy chục bậc nữa: quý khách sẽ gặp ngay giữa cổng đá với những khối đá đủ hình dạng được kết tinh từ ngàn năm tuổi , nơi đây chính lại là hiện sắc của thiên nhiên tạo nên.

Vào mùa lễ hội, hàng ngàn du khách tới đây, ai cũng phải trầm trồ thán phục trước kiệt tác của tạo hoá. Một chút rừng chân bên vòm đá chiêm ngưỡng vẻ đẹp cả một vùng rộng lớn của xã Yên Phú trải dài tít tắp và tận hưởng làm gió mát trong lành từ mênh mông của khỏang không bao la thổi vào, mệt nhọc tan biến, thay vào đó là một cảm giác thật thư thái dễ chịu, trong không gian lồng lộng cảm giác ta như đang bay lên ngang tầm với những đám mây trắng bồng bềnh bay và du khách sẽ tiếp tục khám phá thế giới huyền bí của thiên nhiên ban tặng.

Bước vào cửa động, du khách sẽ được tận mắt thưởng thức và chiêm ngưỡng một thế giới lung linh huyền ảo hiện ra trước mắt du khách.

Cùng với thời gian hàng ngàn, hàng triệu năm, với sự bào mòn của nước, của gió, những khối nhũ đá này đã hoá thân thành những hình hài của vạn vật trần gian. Nơi thì Tiên Ông chơi cờ ngồi đăm chiêu tư lự, hình Ba ba, Cá sấu, Khủng Long và hàng trăm loài muông thú từ mọi chân trời góc bể đến quần tụ về đây.

Trên vòm đá cao, rộng là hình một Linh Điểu xoè đuôi cánh rộng đang cắp một nàng thiếu nữ bay vào cửa hang gợi cho du khách nhớ về câu chuyện cổ tích Thạch Sanh. Vào trong chính động, ta gặp một thạch trụ cột đá trống trời tạc trần, thạch trụ mầu sắc lung linh huyền ảo. Phía sau Thạch trụ, sừng sững khối đá cẩm thạch hình một phụ nữ đứng hình bán nguyệt. Đây là một tượng mẹ mang thai.

Vào đến vách động trong cùng, ta thấy ban thờ Tiên năm tầng. Ngự trên bàn thờ tiên là Nàngtiên thứ bảy đang trong tư thế thành tâm cầu nguyện. Vẻ mặt ưu tư toát lên sự bao dung đôn hậu và khát vọng sống, khát vọng yêu của loài người dưới trần gian với vũ trụ bao la. Hình ảnh đó gợi đến một truyền thuyết và lễ hội Động Tiên.

Ngày xưa, thủa trời đất mới sinh, mặt trăng tròn suốt các đêm trong tháng. Nàng Tiên út - con gái thứ 7 của Ngọc Hoàng là một người con gái rất hiếu động và sinh đẹp. Nàng thường chốn vua cha xuống du ngoạn dưới trần gian, gặp và đem lòng yêu một chàng Mồ Côi tuấn tú. Để việc du ngoạn không bị lộ, nàng yêu cầu vua cha làm cho mặt trăng chỉ tròn một đêm trong tháng.

Rồi Ngọc Hoàng cũng biết chuyện, lệnh cho nàng Tiên út phải ăn chay niệm phật đủ 100 ngày, lệnh cho chàng Mô Côi phải có đủ chim lạ thú quý dưới trần gian làm đồ sính lễ. Các cô chị của nàng Tiên thứ 7 vì ghen ghét đố kỵ, lúc nàng bảy đang thành tâm cầu nguyện thì tâu với Ngọc Hoàng là nàng đi chơi với chàng Mồ Côi làm vua cha tức giận biến nàng bảy và các đồ lễ vật của chàng Mồ Côi thành đá.

Mùa xuân năm sau, lúc quần Tiên mở hội thấy vắng nàng Bảy, Ngọc Hoàng động lòng chắc ẩn mới hỏi Nam Tào Bắc Đẩu mới biết kế hại em của các cô chị. Ngọc Hoàng hối hận đành cho nàng Bảy trở về tiên giới và lệnh cho người dưới trần gian hàng năm cứ vào ngày mùng chín tháng riêng âm lịch mở hội nơi nàng Bảy ngồi cầu nguyện. Và ngày đó nàng Bảy được rời cõi Tiên xuống gặp người trần thoả thích và Ngọc Hoàng cũng không rút lại lệnh trăng khuyết. Thế nên, trăng vẫn chỉ tròn vào đêm rằm cho đến tận ngày hôm nay.

Một câu chuyện huyền thoại vừa mơ, vừa thực gợi cho du khách thăm quan, vừa suy ngẫm về một triết lý đơn giản giữa cái ác và cái thiện khuyên răn con người đến với cái thiện, diệt trừ cái ác hướng tới những cái cao cả của cuộc sống.

Trở lại ngã ba theo những bậc đá lên cao đôi chút mời quý vị và các bạn tiếp tụp khám phá thế giới bí ẩn của thiên nhiên. Vào thăm động Thiên Đình, từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác quý khách không khỏi trầm trồ thán phục trước nhứng khối nhũ đá hoa cương tạo thành những cột đá lấp lánh như một cung điện cổ, thưởng thức những âm thanh vang vọng trầm bổng của những cây đàn đá cất lên nhưlời mời chào cuốn hút du khách vào những điệu nhạc du dương khi những luồng gió thổi vào những vách đá.

Từ động Hai cửa lên đến đỉnh núi khám phá độ cao kỳ vĩ của thiên nhiên, một chút dừng chân ngắm nhìn rừng "tiểu trúc" tận hưởng làn gió mát thổi qua xào sạc. Chinh phục được đỉnh cao, du khách có dịp được chiêm ngưỡng "Rùa thần", Ngài ngự trên cao, đầu hướng về phương nam, Chạm tay vào thần Kim Quy để cầu mong sự may mắn an lành đến với mọi nhà. Phóng xa tầm mắt thưởng thức sự bao la của trời đất cỏ cây ngắm nhìn vẻ đẹp thanh bình của làng quê và cầu mong những điều tốt lành trong cuộc sống.

Sau hành trình khám phá thế giới bí ẩn của "Động tiên", mời du khách tiếp tục khám phá những bí ẩn của động Đàn Đá, Động Thiên Cung, Động Thạch Sanh, Động Âm Phủ, Hang Tôm.Hang Tôm, với dòng nước trong mát chảy ra từ trong lòng núi, tưới cho cỏ cây hoa lá tốt tươi, sơn thủy hữu tình tuyệt mỹ. Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa khi nàng tiên thứ Bảy ru ngoại xuống trần gian. Hang Tôm chính là nơi nàng dừng chân tắm gội gột bỏ bụi trần trước khi trở về tiên giới, du khách tới đây thưởng thức không khí trong lành mát mẻ, xua đi những mệt nhọc để tiếp tục những cuộc hành trình khám phá thế giới bí ẩn của thiên nhiên. Sau khi thăm quan thắng cảnh Động Tiên, du khách tiếp tục cuộc hành trình khám phá những bí ẩn của thiên nhiên, đến thăm Thác Lăn - một điểm du lịch hấp dẫn ngay gần kề Động Tiên.

Động Tiên đã được Bộ Văn Hoá thông tin công nhận là di tích thắng cảnh Quốc gia xứng đáng với tầm vóc của một khu du lịch sinh thái mang tầm cỡ Quốc gia. Đến với Động tiên, sau khi được thưởng thức cảnh đẹp hoang sơ của thiên nhiên ban tặng, quý khách còn được tham gia hào mình vào các lễ hội thi trâu, thi cam và hội chợ làng quê. Đây là lễ hội truyền thống được huyện Hàm Yên tổ chức vào ngày mùng 9 tháng riêng âm lịch hàng năm.

Đến với lễ hội Động Tiên quý khách còn được thưởng thức những món ăn đặc sản của khắp các vùng, miền mang về lễ hội. Một chút men say từ rượu Cham Chu Ba Núi Bảy Đèo, của đồng bào Dao Tiền xã Minh Hương trưng cất từ men lá rừng Cham chu, nhấm nháp với thịt trâu khô xã Yên Phú, một số món ăn truyền thống chế biến từ vịt bầu đặc sản Minh Hương, cơm lam từ gạo nếp, gạo tám thơm của Phù Lưu, Minh Hương, món cá chép ruộng đặc sản của Nhân Mục, Yên thuận hay bánh Đáy Minh Dân, bánh Đẳng xã Bằng Cốc, bánh Gai xã Bình Xa, thưởng thức hương vị ngọt ngào của cam, của quýt ở xã Yên thuận, Bạch Xa, Minh Khương, Minh Dân, Phù Lưu, Yên Phú, Yên Lâm. Ngoài ra, du khách còn có thể mua các dược liệu quý hiếm của đồng bào dân tộc các xã Bạch xa, Minh Dân, mật o­ng rừng xã Yên Thuận, Minh Khương, Bạch Xa, Thành Long, rượu tầm gửi cây Nghiến của đồng bào Dao Đỏ xã Minh Khương vịt bầu Minh Hương.

Theo Quang Quyết - Xuân Quỳnh (web Hàm Yên.org)
Du lịch, GO!

Saturday, 5 April 2014

(TTCT) - Hang Sơn Đoòng là hang động tự nhiên lớn nhất thế giới, nằm trong vùng lõi Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.

< Ánh sáng chiếu xuống từ một cửa hang - thời gian như thế này chỉ có khoảng một giờ trong ngày.

Vào năm 2009, đoàn thám hiểm thuộc Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh và các nhà thám hiểm hang động Việt Nam đã theo chân một người dân địa phương (anh Hồ Khanh, người khám phá ra hang này) khảo sát động Sơn Đoòng.

Trong suốt chiều dài 7,3 km của hang, người ta đo được 150 m chiều cao và 200 m chiều rộng, hang Sơn Đoòng được đánh giá là hang động lớn nhất thế giới với hệ thống thạch nhũ tráng lệ, bộ sưu tập ngọc trai đẹp mắt cùng với khu rừng nhiệt đới nguyên sinh có một không hai trong lòng hang. Sơn Đoòng xứng đáng là một báu vật của toàn nhân loại.

< Một cửa hang lớn trong hệ thống hang Sơn Đoòng.

Bằng cảm xúc của một du khách, nhiếp ảnh gia người Mỹ Ryan Deboodt đã tham gia hai chuyến khám phá Sơn Đoòng để thực hiện một bộ ảnh hồi cuối năm 2013.

< Đoạn đường xuống hang này dài cả trăm mét.

Nhiều người đã biết đến hang Sơn Đoòng thuộc di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) qua nhiều bộ ảnh của các nhà thám hiểm hang động Anh.

Tuy nhiên, không phải ai cũng đến được Sơn Đoòng vì đường đi quá hiểm trở, chưa kể chi phí tham gia do Công ty du lịch lữ hành Oxalis tổ chức khá cao (3.000-6.000 USD/người).

< Sơn Đoòng có rất nhiều ngách hang, mỗi ngách hang luôn rộng và cao hàng chục mét, trong đó nhiều khối nhũ đá vẫn đang lớn và cao dần lên mỗi ngày.

TTCT giới thiệu bộ ảnh của nhiếp ảnh gia người Mỹ Ryan Deboodt do Công ty Oxalis cung cấp.

< Những khối thạch nhũ cao hàng chục mét, rất kỳ ảo trong hang Sơn Đoòng.

Ngay từ tháng 9/2013, ông Nguyễn Châu Á, điều hành Công ty Oxalis - đơn vị tổ chức tour khám phá hang động Sơn Đoòng đã cho biết số chỗ đặt tour thám hiểm hang động này trong năm 2014 đã kín. Danh sách đã đăng ký vẫn còn hơn 500 người, vì vậy số này phải chuyển sang đi vào các năm sau và cũng đã kín hết chỗ cho đến năm 2016.

< Cột nhũ đá với những vòng xoắn giống một con ốc bươu.

< Khi những khối núi đá vôi Kẻ Bàng đang hình thành hang động, dòng nước đã tạo nên những hồ bậc thang trong hang Sơn Đoòng.

UBND tỉnh Quảng Bình cho phép tour khám phá hang Sơn Đoòng mỗi tháng chỉ đi được bốn chuyến loại 6 ngày 5 đêm/chuyến và số lượng khách trong năm không quá 224 người. Do vậy, nếu muốn theo tour của Oxalis sẽ là điều vô cùng khó khăn.

< Lòng sông cạn rộng lớn trong hang là khu vực an toàn để cắm trại nghỉ đêm.

Hiện tại Công ty Oxalis đang kiến nghị UBND tỉnh Quảng Bình sớm đánh giá kết quả các chuyến thử nghiệm tour khám phá hang Sơn Đoòng trong tháng 8, 9 vừa qua để chính thức đưa vào khai thác từ năm 2014, nhằm tránh gián đoạn tour vào mùa cao điểm (những tháng mùa hè).

Theo Lam Giang (Tuổi Trẻ Cuối Tuần), ảnh Ryan Deboodt
Du lịch, GO!

Lịch sử đăng bài

Powered by Blogger.

Bài đăng mới

Thích thì click!^^

Bải đăng phổ biến