Showing posts with label Núi. Show all posts
Showing posts with label Núi. Show all posts

Saturday, 24 May 2014

(TTCT) - Xuyên qua những cánh rừng nguyên sinh rực đỏ hoa đỗ quyên, leo được đến đỉnh ngọn Nhìu Cồ San cao hơn 2.600m so với mực nước biển, cảm giác tuyệt vời thật không thể nào tả được bằng lời.

Ngọn Nhìu Cồ San thuộc địa phận xã Sàng Ma Sáo, huyện Bát Xát, Lào Cai. Theo hướng dẫn của một thanh niên người bản địa tên Chu Chê Sàn, chúng tôi đi theo lối mòn xuất phát ở làng Lao Chải của người Hà Nhì. Ngay từ điểm xuất phát, nếu là người lần đầu đến đây, chắc chắn bạn sẽ ngỡ ngàng trước những ngôi nhà xinh xắn được đắp bằng đất sét, dáng dấp đặc trưng của đồng bào nơi này.

Sắc đỏ làm duyên cho rừng

< Đường đi khó khăn, nhiều lúc phải dò từng bước.

Thử thách đầu tiên ở cuộc hành trình chinh phục Nhìu Cồ San là đoạn đường dốc nhỏ, và ngay sau đó là một con suối với những đá tảng rêu phong dễ khiến bạn trượt chân ngay lập tức nếu không cẩn trọng dò trước khi đặt chân. Vào những khi trời không có mây mù, Nhìu Cồ San nhìn từ xa khá giống với chiếc sừng trâu nên đồng bào ở đây vẫn nôm na gọi đây là đỉnh núi Sừng Trâu.

Sau một chặng đường dài chừng 10km, nhưng dường như mọi người trong đoàn không ai cảm thấy mệt nhọc có lẽ nhờ không khí ở đây quá trong lành. Những tán cây cổ thụ rợp bóng suốt chặng đường. Một khoảng trống hiện ra trước mắt chúng tôi tuyệt đẹp: bản làng của đồng bào dân tộc Mông đan xen với những thảm ruộng bậc thang.


< Phút nghỉ ngơi.

“Thật tiếc vì chúng ta không đi vào mùa lúa chín - Chu Chê Sàn nói - Nếu không bức tranh càng tuyệt hơn”. Bỗng chúng tôi phát hiện mình đang lạc bước vào một cánh rừng già với đủ loại cây gỗ quý dễ có hàng trăm năm tuổi, vươn mình giữa đại ngàn, hai bên đường mòn với nhiều loài hoa lạ đua nhau khoe sắc, dưới tán cây rừng là những nương thảo quả xanh tốt.

Trời hửng nắng! Những tia nắng rất yếu ớt, sương cũng dần tan. Lúc này chúng tôi mới có dịp ngẩng mặt lên nhìn, dường như mình lạc bước vào xứ sở của đào rừng và hoa đỗ quyên đỏ rực tuyệt đẹp... Nếu ai từng thấy đỗ quyên hay đào rừng khi chinh phục Phanxipăng và Mẫu Sơn vẫn phải thốt lên khi nhìn thấy bạt ngàn sắc đỏ ở Nhìu Cồ San.

Nhìn thân cây sần sùi, rêu phong bám víu trên thân tạo ra đủ hình thù dễ khiến ta liên tưởng đến những bộ phim thám hiểm trong rừng Amazon.

Núi trên mây


< Sắc hoa đỗ quyên điểm xuyết cho cánh rừng thêm duyên.

Tôi không nhớ chính xác mình đã đi qua bao nhiêu chóp núi và cũng không thể nào nhớ bao nhiêu lần phải thắt dây giày nữa vì quá nhiều cây rậm rạp đâm vào chân mình... Chiếc máy ảnh là thứ mình yêu nhất cũng không được an toàn vì chung số phận giống như mình, bị trầy sướt do va đập...

Phải mất khoảng ba giờ, tính từ lúc chinh phục đỉnh núi đầu tiên, vượt qua rất nhiều ngọn núi nữa chúng tôi mới leo được tới Nhìu Cồ San. Chúng tôi đã vỡ òa lên sung sướng vì đã đến đỉnh rồi, biển mây là đây, bầu trời là đây. Đúng là mây vờn đỉnh núi, có bạn còn cho rằng đúng hơn là núi trên mây.

Hai bên nơi chúng tôi đứng cách chưa đến 1m đều là vực thẳm, trắng xóa bao quanh là biển mây, trời thì gió rất mạnh, mây mù lạnh buốt táp vào mặt... Cảm xúc lúc này thật kỳ lạ. Giữa đất trời bao la thấy yêu quê hương đất nước mình hơn lúc nào hết.

< Mây vờn đỉnh núi.

Cũng như khi leo lên đỉnh Phanxipăng, muốn chinh phục Nhìu Cồ San cần phải có người dẫn đường, tốt nhất là dân bản. Có thể liên hệ với người dân ở đây để thuê người. Vì đây là biên giới, gần đồn biên phòng Y Tý nên cần mang theo chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu. Tất nhiên phải trình báo với các chiến sĩ ở đây về chuyến hành trình của mình.

Từ Hà Nội bạn có thể đi tàu hỏa hoặc ôtô khách đến Lào Cai. Tại đây bạn có thể thuê xe máy đến Y Tý với quãng đường 80km. Ở Y Tý nhà trọ rất nhiều, từ khách đoàn đến khách lẻ - giá trung bình là 150.000 đồng/phòng, giá cả ăn uống khá dễ chịu.

Theo Lam Thanh (Tuổi Trẻ Cuối Tuần)
Du lịch, GO!

Vượt đỉnh Nhìu Cồ San

Saturday, 10 May 2014

Đến Vũng Tàu, ngoài dịp được nô đùa thỏa thích với sóng biển... thì việc khám phá, chinh phục ngọn hải đăng cổ trên đỉnh núi Nhỏ hay núi Tương Phùng là một trong những điều thú vị nhất mà du khách không nên bỏ lỡ.

Trong số 79 ngọn hải đăng ở Việt Nam với đa phần được xây dựng tại các đảo thuộc lãnh hải, hải đăng Vũng Tàu là một số ít còn lại nằm trong khu vực thành phố. Hải đăng Vũng Tàu là hải đăng tọa lạc trên đỉnh núi Nhỏ (hay còn gọi là núi Tương Phùng), thuộc thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Với vị trí không thể đẹp hơn, hải đăng Vũng Tàu xứng đáng được mệnh danh là "ngọn hải đăng hấp dẫn nhất Việt Nam".

< Đưởng nhựa lên hải đăng.

Từ lâu nay, hải đăng Vũng Tàu đã được xem như là biểu tượng của thành phố biển Vũng Tàu. Tọa lạc trên đỉnh núi Nhỏ, hải đăng được người Pháp xây dựng vào năm 1862 ở độ cao 149m so với mực nước biển.

Năm 1913, người Pháp xây lại ngọn hải đăng này, dời độ cao lên 170m. Đây là ngọn hải đăng được xếp vào hàng cổ xưa nhất Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

< Và đường bộ cho người thích trekking.

Đường dẫn lên ngọn hải đăng rất đẹp, nằm uốn lượn bên triền núi, nơi có những loài cây nhiệt đới chen vách đá tỏa bóng mát xuống lối đi.

Du khách có thể đi xe máy hoặc ô để đến ngọn hải đăng nằm ở độ cao 170m, ngoài ra còn một cách di chuyển nữa cũng rất thú vị đó là mất khoảng 1 giờ thả bộ với một chút phiêu lưu thử thách.

< Hải đăng Vũng Tàu nằm trên đỉnh ngọn núi Tương Phùng.

Nhưng cũng chính nhờ vậy mà cảm giác lại tuyệt vời hơn bao giờ hết khi có thể thưởng ngoạn phong cảnh thật chậm rãi. Không chỉ vậy, bao nhiêu mệt mỏi dường như tan biến khi đến đỉnh núi, ngắm nhìn ngọn hải đăng hiện ra thật đẹp sừng sững, uy nghiêm trong một màu trắng muốt, nổi bật trên nền xanh của cây rừng và biển cả.

Kiến trúc ngọn hải đăng là một tháp hình trụ cao 18 m, đường kính 3m và được sơn màu trắng. Bên trong ngọn hải đăng có cầu thang dẫn đến nơi đặt đèn. Gần đỉnh hải đăng còn có ban công để ngắm cảnh.

Trong khuôn viên của ngọn hải đăng còn có nhiều công trình khác như nhà điều hành, trạm thông tin và đài quan sát. Các công trình đều được thiết kế giàu tính thẩm mỹ và mang đậm dấu ấn thời gian.

Đi qua khu nhà vận hành đồ sộ, khu vườn sứ hàng chục năm tuổi trổ bông thơm ngát sẽ đến ngọn hải đăng. Từ đây, ta sẽ theo cầu thang xoắn ốc sẽ dẫn lên ban công gần đỉnh ngọn tháp, nơi du khách có thể tận hưởng những làn gió mát rượi thổi vào từ biển khơi.

Thú vị hơn khi phóng tầm mắt bao quát cả thành phố, để thấy mọi thứ trở nên nhỏ bé như một thế giới trò chơi sinh động, dường như lúc này chỉ có người quan sát to lớn hơn trong niềm vui chiến thắng của một cuộc chinh phục tự nhiên.

Đặc biệt nếu đến đây vào buổi tối du khách sẽ có dịp cảm nhận được hết vẻ đẹp của ngọn hải đăng. Bằng ánh đèn rực sáng ngọn hải đăng tựa như con mắt đại dương, cần mẫn báo hiệu cho tàu thuyền trên cả một vùng trời tối sẫm rộng lớn. Để khi nhìn vào đó người ta tưởng chừng như tìm thấy sự an toàn và thắp lên trong lòng những tia sáng tươi vui hy vọng.

Tổng hợp từ internet
Du lịch, GO!

Thursday, 8 May 2014

(TNO) - Núi Hoành Sơn (ở H.Tây Sơn, Bình Định) được dân gian lưu truyền là nơi có mộ ông Hồ Phi Phúc và vua Nguyễn Nhạc nhà Tây Sơn.

Nơi có long huyệt

Ngày nay, nhiều ngọn núi xung quanh Hoành Sơn được đặt các tên như: Bút Sơn (Hòn Trưng), Nghiên Sơn (Hòn Dũng), Cổ Sơn (Hòn Trống), Chung Sơn (Hòn Chuông), Kiếm Sơn (Hòn Hóc Lãnh), núi ông Bình, núi ông Nhạc… Đàn tế trời đất được xây dựng tại Ân Sơn, nằm trong dãy Hoành Sơn, càng khiến cho vùng đất này thêm linh thiêng, huyền bí. Hầu hết những địa danh, di tích mới và cũ này đều gắn với những truyền thuyết về phong trào nông dân Tây Sơn vào cuối thế kỷ 18 do anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo.

Theo nhà thơ Trần Viết Dũng (ở thị trấn Phú Phong, H.Tây Sơn), đứng từ cầu Phú Phong nhìn lên Hoành Sơn trông như một án thờ khổng lồ. Bên trái là Bút Sơn, bên phải là Nghiên Sơn giống như 2 cây đèn ở hai bên án thờ Hoành Sơn. Khi vua Nguyễn Nhạc chưa đào thêm các nhánh sông Côn ở phía bắc thì trước án thờ Hoành Sơn là đồng bằng y như một chiếc chiếu. Cũng có người cho rằng 3 ngọn Bút Sơn, Hoành Sơn, Nghiên Sơn được trời đất sắp xếp như một chiếc ngai vàng nằm giữa đất Tây Sơn.

< Từ núi Hoành Sơn nhìn xuống đèo Ngang.

Truyền thuyết dân gian kể lại rằng, trước khi anh em Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa, có một thầy địa lý người Tàu thường đến tá túc nhà Nguyễn Nhạc để tìm long huyệt. Xác định Hoành Sơn là đại địa, có long huyệt nên thầy địa lý về nước mang hài cốt cha sang chôn. Khi trở lại nhà Nguyễn Nhạc tá túc, thầy địa lý có mang theo một chiếc tráp nhỏ bọc tấm khăn điều ở ngoài. Biết chuyện, Nguyễn Nhạc làm giả một cái tráp y hệt đựng hài cốt cha mình là ông Hồ Phi Phúc rồi tìm cách đánh tráo với cái tráp của thầy địa lý. Đến ngày tốt, thầy địa lý lén lút mang cái tráp vào chôn ở long huyệt Hoành Sơn rồi về nước chờ ngày phát đế vương. Thầy địa lý đâu ngờ trong tráp là hài cốt của ông Hồ Phi Phúc. Về sau anh em Nguyễn Nhạc đã cùng với nông dân phất cờ khởi nghĩa.

Năm Kỷ Dậu (1789), Nguyễn Huệ đại thắng 20 vạn quân Thanh tại gò Đống Đa, đòi lại đất Lưỡng Quảng, tiếng tăm vang dội cả Trung Quốc. Thầy địa lý biết mình bị lừa nên trở lại vùng đất Tây Sơn tìm cách phá hoại long mạch để trả thù. Y khuyên Nguyễn Nhạc lấp mấy ngọn phụ lưu sông Côn ở phía nam và đào thêm mấy nhánh khác ở phía bắc để dẫn nước vào ruộng cho nhân dân cày cấy. Nguyễn Nhạc làm theo. Sông vừa đào xong, Nguyễn Huệ băng hà ở Phú Xuân vào năm 1792, Nguyễn Nhạc cũng mất vào năm 1793. Năm 1802, Nguyễn Ánh thống nhất đất nước, nhà Tây Sơn bị diệt vong.

Dân gian cũng lưu truyền câu chuyện Nguyễn Nhạc được Ngọc Hoàng phong vương ở Trưng Sơn, ban kiếm ở hòn Hóc Lãnh nên gọi là Kiếm Sơn, ban Ấn ở hòn Trống nên gọi là Ấn Sơn... Những truyền thuyết này được nhà thơ Quách Tấn kể lại trong các sách Non nước Bình Định, Võ nhân Bình Định... Người dân Tây Sơn còn lưu truyền rằng ở Bút Sơn còn có mộ mẹ chàng Lía (lãnh tụ phong trào khởi nghĩa nông dân đầu thế kỷ 18 ở Bình Định) nhưng đã bị quân Nam Triều Tiên phá tung từ trước năm 1975. Dưới chân Hoành Sơn ngày nay còn có mộ Mai Xuân Thưởng (1860 - 1887), một lãnh tụ phong trào Cần Vương ở Bình Định.

Bạch mã hiện hình

Trong sách Non nước Bình Định, nhà thơ Quách Tấn còn kể lại câu chuyện "bạch mã hiện hình" gắn với giả thuyết mộ vua Thái Đức Nguyễn Nhạc cũng ở Hoành Sơn. Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc có con bạch mã rất quý, gắn bó với ông từ những ngày đầu dựng cờ khởi nghĩa. Sau khi vua băng hà, con bạch mã cũng biệt tích. Thời gian sau, người ta thấy ở Hoành Sơn có bóng ngựa trắng, khi thì đi thơ thẩn dưới chân núi, khi thì lên đỉnh đứng hí não nùng. Mọi người đều tin rằng đó là hồn thiêng con bạch mã của vua Thái Đức. Vì tôn trọng nhà vua, mấy trăm năm nay, người dân Tây Sơn không một ai nuôi ngựa trắng.

< Lăng mộ Mai Xuân Thưởng dưới chân núi Hoành Sơn.

Sau khi lên ngôi vua, nghe tin Hoành Sơn có hai nấm mộ bằng đá, nghi ngờ là phần mộ của ông bà Hồ Phi Phúc, Nguyễn Ánh truyền quan địa phương quật lên để trả thù. Nhưng hài cốt không thấy đâu, chỉ thấy bốn chum dầu phụng đã lưng, trong mỗi chum có một ngọn đèn chong đương cháy. Nhiều người cho rằng bốn chum dầu này do nhà Tây Sơn chôn nhưng không rõ mục đích. Vua quan nhà Nguyễn tìm khắp nơi trong núi Hoành Sơn nhưng vẫn không thấy mộ ông bà Hồ Phi Phúc.

Nhà thơ Trần Viết Dũng kể: Năm 1933, nhà thơ Tản Đà đến chơi tại Bình Định, nghe tin vùng Hoành Sơn có mộ thân sinh anh em nhà Tây Sơn nên lặn lội đi tìm. Xã trưởng xã Bình Thành khi đó, dân gọi xã Xuyền, nghe tin, cho người bắt giải lên quan tri huyện vì tội "tôn thờ ngụy Tây Sơn". Tuy nhiên, quan tri huyện là người rất yêu thích văn chương, biết tiếng nhà thơ Tản Đà nên ra lệnh thả ngay.

Những truyền thuyết, giai thoại liên quan đến nhà Tây Sơn hư hư thực thực nhưng lòng dân yêu mến triều đại này rất thực. Một triều đại lãnh đạo nhân dân giành nhiều chiến công hiển hách, đem lại khát vọng cường thịnh cho dân tộc nên dù đã diệt vong hơn 200 năm, người dân vẫn ghi nhớ: "Cây Me cũ, Bến Trầu xưa/Dẫu không nên tình nghĩa cũng đón đưa cho trọn niềm".

Theo Hoàng Trọng (báo Thanh Niên)
Du lịch, GO!

Tuesday, 6 May 2014

Khách du lịch tới bán đảo Sơn Trà chủ yếu ghé thăm chùa Linh Ứng hoặc Bãi Bụt, Bãi Rạng, Bãi Đá Đen mà ít người khám phá một điểm cao thú vị là đỉnh Bàn Cờ.

< Đường xuống hải đăng Tiên Sa, cẩn thận vì rất dốc.

Đỉnh Bàn Cờ là một trong những đỉnh núi của Hòn Sơn Trà, còn mang tên núi Tiên Sa vì từ ngày xưa truyền lại nơi đây vốn là xứ sở quyến rũ thần tiên sa xuống chơi cờ, thưởng ngoạn, tắm suối và đùa giỡn với sóng biển. Du khách gần xa bây giờ cũng bị cuốn hút bởi bối cảnh “tiên sa” của chốn trần gian ấy. Dân phượt hết sức thích thú khi lượn xe trên đường núi lắm quanh co, trắc trở, kích thích óc phiêu lưu.

< Tùy theo thời tiết: lắm lúc đứng trên đỉnh Bàn Cờ thấy mây nằm dưới chân mình.

Đường lên đỉnh núi quanh co uốn lượn là một hành trình mà bạn có thể trải nghiệm nhiều cảnh quan tươi đẹp và thơ mộng của bán đảo Sơn Trà. Con đường có lúc bám theo vòng cung bờ biển nên thơ với những bãi biển hoang sơ và có đoạn lại xuyên qua những tán cây um tùm xanh mướt. Cái nắng gió của biển xen lẫn vào chút ẩm ướt của cây rừng khiến cho hành trình lên Bàn Cờ thật nhiều cảm xúc.

Để lên tới khu vực đỉnh Bàn Cờ, bạn phải leo một đoạn cầu thang khá dốc, dựng đứng. Theo truyền thuyết, có hai vị tiên ông ngồi đánh cờ trên đỉnh núi Sơn Trà nhưng trong nhiều ngày vẫn bất phân thắng bại.

Rồi một hôm, những tiên nữ bay xuống bãi biển để tắm, trong lúc lơ là nhìn tiên nữ vui đùa, một tiên ông đã bị đối thủ đánh bại. Bực mình, tiên ông dậm mạnh bàn chân lên tảng đá, đá văng bàn cờ xuống biển, rồi bay về trời. Theo truyền thuyết đó, người ta đã đặt một bức tượng Đế Thích ngồi một mình bên tảng đá có hình bàn cờ và đỉnh Bàn Cờ có tên từ đó.

Trải qua cung đường từ chân bán đảo lên đỉnh Bàn Cờ, mọi mệt mỏi được xua tan nhờ không gian bao la như chốn bồng lai tiên cảnh. Đứng trên điểm cao gần 700 m này, có thể ngắm nhìn toàn bộ Đà Nẵng. Xa xa là một thành phố sầm uất nhộn nhịp những tòa nhà và chín cây cầu nổi tiếng bắc qua sông Hàn.

Leo lên đỉnh Bàn Cờ đẹp nhất có lẽ là buổi sáng tinh mơ, khi thành phố vẫn còn im lìm chưa thức giấc, thiên nhiên ở bán đảo cũng vừa cựa mình, ánh mặt trời le lói phía bên kia ngọn núi. Hoặc một chiều tan sở, nắng đã tắt, vòng quanh bán đảo gió mát rười rượi để lên đỉnh Bàn Cờ lúc hoàng hôn, ráng hồng của mặt trời lan tỏa một vùng nước, cảnh sắc huyền ảo.

Lên núi Sơn Trà ghé đỉnh Bàn Cờ, bạn đừng quên ghé thăm cây đa đại thụ - cây mà người ta cho rằng có ngàn năm tuổi. Ngoài ra, trên suốt những con đường quanh co và tuyệt đẹp này, bạn sẽ thấy đài Radar, sân bay trực thăng, Đài Phát thanh Truyền Hình ĐN, Đài phát sóng DRT, Thủy Trang Trà, đèn biển Tiên Sa...

Du lịch, GO! tổng hợp - ảnh Điền Gia Dũng

P 8 - Ngàn năm “tiên sa” và truyền thuyết đỉnh Bàn Cờ

Friday, 2 May 2014

(TBKSG) - Tập đoàn Sun Group, đơn vị quản lý khu du lịch Bà Nà Hills vừa khai trương tuyến tàu hỏa leo núi tại Bà Nà (Đà Nẵng) vào thứ Bảy tuần này (ngày 26-4-2014). Đây cũng là tuyến tàu hoả leo núi đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam từ sau năm 1975.

Đây là tuyến tàu hoả leo núi bằng hệ thống cáp kéo. Tuyến tàu hỏa này giúp du khách dễ dàng di chuyển qua các thắng cảnh trên đỉnh Bà Nà như chùa Linh Ứng, vườn hoa Le Jardin, khu biệt thự cổ...

Tập đoàn Sun Group đã chọn nhà sản xuất hệ thống cáp Garaventa (Thụy Sĩ) thực hiện công trình tàu hoả leo núi tại Bà Nà Hills. Hệ thống cáp kéo của Garaventa được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới, có thể xây trong thành phố, vùng nông thôn, trên địa hình đồi núi trắc trở… Công trình này được bắt đầu khởi công từ tháng 7-2013 cho đến cuối tháng 4-2014 thì hoàn tất.

Công ty Cổ phần dịch vụ cáp treo Bà Nà (thuộc Sun Group) cho biết, trước đây, để lên đỉnh núi, hầm rượu Debay, vườn Tịnh Tâm… từ ga Debay du khách cần vượt qua gần 2 km đường quanh co bằng xe trung chuyển hoặc đi bộ men theo vách núi đá. Do xe trung chuyển thường chỉ có thể chở được tối đa 16 người rồi quay vòng nên khó đáp ứng nhu cầu tham quan đỉnh Bà Nà vào ngày cuối tuần, ngày lễ hay các đợt cao điểm du lịch.

Tuyến tàu hỏa leo núi tại Bà Nà có  sức chứa 80 người/cabin, đạt vận tốc 5m/s, công suất vận hành khoảng 1.600 khách/giờ. Hiện tại, Bà Nà Hills đang khuyến mãi vé tàu hoả leo núi với mức giá khứ hồi là 50.000 đồng/khách.

Theo The Saigon Times
Du lịch, GO!
Ngọn núi như một đám mây rủ nên có tên là Thùy Vân. Ngoài ra, núi còn có nhiều tên gọi khác, như: núi Đá Dựng, Hòn Thung, núi Ngang, núi Điện Bà, núi Châu Viên, núi Trương Phi... và tên ngày nay là núi Minh Đạm.

Nằm ven biển, Thùy Vân là nơi lý tưởng để ngắm toàn vùng biển Long Hải từ trên cao. Với địa hình hiểm trởc cùng rừng cây phủ xanh ngọn núi với nhiều hang hốc nên được sử dụng làm căn cứ kháng chiến của quân và dân Bà Rịa- Vũng Tàu từ năm 1948-1975.
Khu căn cứ này được chia làm bốn khu: Chùa Viên, Đá Chẻ, Chùa Giếng Gạch, Đá Chồng với các hang trọng yếu được phục dựng khai thác du lịch (hang Huyện ủy, hang Huyện đội, hang Quân y, hang Thị xã Cấp, hang Quân giới, hang Binh vận, hang B2, hang xã Phước Hải…).

Những ngày tháng Tư hào hùng, Thùy Vân là điểm đến lý thú để vừa tìm hiểu về tích lịch sử, vừa thưởng lãm phong cảnh.

Ngọn Thùy Vân nằm trên con đường ven biển nối liền miền Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, tức nằm dọc theo đường biển Long Hải- Hồ Tràm thuộc địa phận Bà Rịa- Vũng Tàu, nối hai tuyến quốc lộ 51 và 55, chỉ cách Vũng Tàu khoảng 30 cây số. Con đường trải nhựa đi qua những khu resort nổi tiếng bậc nhất Việt Nam. Vừa qua khỏi các khu resort, có bảng hướng dẫn bên trái rẽ vào khu căn cứ cách mạng Minh Đạm khoảng 3 cây số. Cổng vào khu căn cứ nằm ngay chân núi. Đường lên núi ngoằn ngoèo theo địa hình hiểm trở, được trải nhựa nên ô tô có thể lên tới nơi. Con đường mát rượi bóng cây, không khí trong lành, dễ chịu.

Sau vài mươi phút chạy xe gắn máy lên núi, du khách đặt chân đến khu căn cứ Minh Đạm- ghép tên từ hai vị Bí thư và Phó Bí thư huyện Đất Đỏ là ông Bùi Công Minh và ông Mạc Thanh Đạm đã hy sinh trên đường đi công tác do địch càn quét năm 1948. Ngọn núi cũng được đổi tên thành Minh Đạm.

Toàn bộ khu căn cứ xưa được phục dựng và giữ gìn nguyên trạng. Không cần người dẫn đường, du khách có thể leo lên những sườn đồi, những tảng đá lớn để tự khám phá toàn bộ khu căn cứ này trong một buổi.

Du khách sẽ cảm nhận rõ hơn những năm tháng chiến tranh ác liệt và hiểu thêm về cuộc sống chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng khi luồn rừng, hay lách mình giữa các hang hốc hiểm trở. Những hang đá lớn, nhỏ trên núi được các chiến sĩ cách mạng tận dụng làm nơi trú ngụ, làm việc. Có những hang sâu hàng chục mét nhưng có những hang nhỏ, hốc đá chỉ vài mét. Hang hốc chồng chất lên nhau rất vững chãi, tạo thành "địa lợi" cho khu căn cứ. Ở các hang đều có bảng chỉ dẫn với những thông tin được ghi chú rõ ràng.

Đặc biệt, từ đỉnh núi hoặc sườn núi, du khách có thể ngắm toàn cảnh biển Long Hải- Hồ Tràm xanh ngút ngàn. Những con sóng bạc đầu lăn tăn, những con thuyền nhấp nhô như điểm xuyến thêm sắc màu trên tấm thảm xanh biếc ấy.

Người ta ví dãy bờ biển này như một con rồng xanh uốn mình dưới chân núi Thùy Vân. Xuống núi là ra đến biển, du khách thỏa sức đắm mình trong làn nước biển xanh mênh mang. Bãi biển Long Hải và Hồ Tràm được khai thác du lịch với những khu resort cao cấp nhưng không có tình trạng cát cứ, quây chiếm bãi biển. Ngược lại, du khách và người dân địa phương vẫn có thể vui đùa, tắm biển trên suốt bãi biển sạch sẽ này. Chỉ riêng Bãi Dương còn giữ nguyên vẹn nét hoang sơ, chưa có những công trình, kiến trúc du lịch nào.

Giá lưu trú và ăn uống ở đây khá "mềm". Mùa lễ, Tết, khu vực này thu hút rất đông du khách nhưng phần lớn là khách địa phương và phụ cận nên họ đi về trong ngày. Vì thế, giá lưu trú gần như không đổi. Kết hợp lên rừng, xuống biển trong cùng một chuyến đi; vừa tìm hiểu lịch sử, vừa ngắm cảnh thiên nhiên ngoạn mục; đồng thời, tránh được những chỗ quá đông khách, ồn ào như Vũng Tàu, Phan Thiết, nhất là không phải canh cánh nỗi lo chặt chém, "cháy" phòng nghỉ dịp lễ…- đó là những lý do để du khách gần xa chọn đến với khu di tích lịch sử Minh Đạm.

Theo Thanh Nhàn (báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Monday, 28 April 2014

(TTO) - Đến Ngọa Long Sơn lại bắt gặp cái tên “bến”. Hỏi ra mới biết đây là chợ đầu mối, nơi hàng hóa và hoa quả tươi rói từ trên núi chuyển xuống nên ai cũng thích thú khi được hòa mình vào các “bến” bên chân dãy Thất Sơn hùng vĩ.

< Cánh đồng bao la dưới chân Ngọa Long Sơn (núi Dài).

Trong mùa lễ hội miếu Bà tháng 3, tháng 4, nhất là dịp lễ 30-4, du khách thường đến thăm chiến trường xưa, thăm khu thờ tâm linh điện Tà Cao ở Ngọa Long Sơn. Trên đỉnh núi Dài là hai xã giáp ranh Lương Phi và Lê Trì, có nhiều đường ô và con suối với trên 300ha đất rải rác được nông dân biến thành vườn và rẫy.

Ngọa Long Sơn (có nghĩa con rồng nằm) còn gọi là núi Dài, thuộc dạng núi dốc, với độ cao 554m (có nơi ghi 580m), độ dốc trên 25 độ. Đá trên núi phần lớn là đá cứng với nhiều pha tạp khác nhau. "Con rồng" dài khoảng 8.000m, nằm dọc tỉnh lộ 955B, chiếm một diện tích rộng lớn thuộc bốn xã Châu Lăng, Lương Phi, Ba Chúc và Lê Trì của huyện Tri Tôn, An Giang.

< Khu di tích lịch sử cách mạng Ô Tà Sóc.

Đường vào Ô Tà Sóc là con đường nhựa nhỏ dài chừng 2,5km, nhiều chỗ tróc lở, lởm chởm. Con đường mát dịu với hai bên đường là những cánh rừng tầm vông chạy dài trông thật đẹp mắt. Lẫn trong màu lá tầm vông là những tán lá xoài, mít, đào lộn hột... xanh biếc.

Chúng tôi dừng chân ở ngã ba bên chân núi, ngay bên con đường dẫn lên Ma Thiên Lãnh (còn gọi Bục Ông Địa). Nhà của anh Lê Văn Kéo (53 tuổi) nằm giữa vườn cây ăn trái râm mát là chỗ nghỉ khá lý tưởng. Nhưng anh bảo do bị khai phá, núi Dài ngày nay đã vắng bóng khá nhiều chim thú quý, danh mộc.

Người dân ở đây thường lên núi làm rẫy và làm những chiếc bẫy đạp hoặc đem gà nhà dụ gà rừng đến để bắt. Gà rừng bắt về nhưng không nuôi được, muốn lai giống với gà nhà cũng “bó tay” vì gà nhà bị chúng đá tơi bời. Chỉ có việc bán cho dân nhậu ưa thích, dù có người chê thịt dai nhách.

< Sơn dân đem xoài đến bến Ô Tà Sóc cân cho thương lái.

Bến Ô Tà Sóc thuộc ấp Ô Tà Sóc, xã Lương Phi, nằm giữa những vườn cây râm mát, ngay con đường dẫn lên núi. Trong chiến tranh chống Mỹ, nơi đây được chọn làm căn cứ của Tỉnh ủy An Giang và cơ quan trực thuộc (từ năm 1962-1967).

Trời đã xế chiều, nhưng bến Ô Tà Sóc vẫn khá nhộn nhịp, bên cạnh là các hàng quán phục vụ ăn uống cho người mua kẻ bán. Ngồi trong quán nhỏ xộc xệch, ông Trần Văn Tiều (66 tuổi) cho biết tên gọi Ô Tà Sóc có nghĩa là suối ông Sóc. Ông có 7 công đất trên núi trồng một số loại cây ăn trái, nhiều nhất là xoài, chuối...


< Cô gái sơn cước chở xoài đến bến bán cho chủ vựa.

Việc khai thác đất núi thành đất vườn hoặc rẫy của sơn dân ngoài việc tăng thu nhập còn là điều kiện để họ tham gia chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ. Họ dựng chòi, ban đêm cho người giữ... Nhờ vậy mà nhiều năm qua rừng trên núi không bị cháy.

Ông Tiều thổ lộ việc trồng trọt, đặc biệt là xoài trên núi, tốn nhiều công sức và chi phí tốn kém. Xoài ở đây thường trồng ghép bưởi, một năm một mùa, thu hoạch từ tháng 4 đến tháng 5 âm lịch. Nếu ai làm giỏi, có kỹ thuật thì một năm có thêm mùa thứ hai từ tháng 10.

< Chuối trên núi đem xuống bến Ô Tà Sóc.

Trên núi ngoài xoài, chuối, mít, người ta còn trồng đậu que, đậu rồng vào khoảng tháng 5, tháng 6 âm lịch. Mưa hơi dày, bà con lại thu hoạch măng le, măng mạnh tông. Lệ thường đầu và cuối mùa măng giá cao, còn giữa mùa măng mạnh tông cao cấp giá vẫn “bèo”, có năm chỉ 1.500 đồng/kg.

Dọc chân núi Dài, ngoài bến Ô Tà Sóc còn có các bến Lương Phi, bến Bục Ông Địa... Để thu hoạch nông sản trên núi, các sơn dân ở núi Dài đều thuê mướn nhân công. Hàng trăm lao động nghèo ở các xã Lương Phi, Lê Trì, Châu Lăng và thị trấn Ba Chúc là lực lượng tham gia công việc thu hoạch và vận chuyển nông sản từ trên núi xuống.

< Bia kỷ niệm Ô Tà Sóc.

Anh Chau Chok (30 tuổi) tâm sự để nuôi mấy con nhỏ, vợ chồng anh làm nghề hái và gánh mướn từ trên núi xuống từ khi chưa lập gia đình. Một ngày, anh phải hái 300-400kg trái cây, kiếm được khoảng 150.000 đồng. Nếu hái trên sườn núi cao, giá sẽ cao hơn, có thể 170.000 đồng/ngày... Còn gánh từ trên núi xuống nơi thấp nhất dưới chân núi giá 300-500 đồng/ký.

Năm nay nắng hạn nên hoa màu không đạt chất lượng. Nông sản ở khu vực Ô Hồng Hoàng, Ô Tà Sóc, Vồ Đá Bạc, Thố Phi... thuộc vùng núi Dài gặp nhiều khó khăn, sản lượng nông sản tập trung về bến Ô Tà Sóc và bến Bà Chi, bến Bục Ông Địa rất ít, chủ yếu chỉ có chuối và xoài.

< Những hàng quán mát mẻ ở bến Ô Tà sóc.

Trong những dịp về nguồn, thăm lại chiến trường xưa, du khách đến Ô Tà Sóc sau khi tìm đến Bục Ông Địa, Vồ Cờ, Vồ Sả hay Lò An để sống lại một thời lịch sử hào hùng của quân dân tỉnh An Giang. Riêng khách du lịch tâm linh trong mùa trẩy hội miếu Bà đến Ô Tà Sóc tìm thăm điện Tà Cao, nơi có nhiều truyền thuyết về tâm linh, ghé thăm bia tưởng niệm Ô Tà Sóc.

Khám phá chán chê, giữa u tịch núi rừng, bạn có thể dừng chân nghỉ trong các quán hàng ăn uống dưới những bóng cây cổ thụ ở bến Ô Tà Sóc với đủ món cơm, phở, hủ tiếu... và các loại giải khát. Sau đó tha hồ chọn mua trái cây tươi rói và các vật lưu niệm của vùng bán sơn địa với giá cả phải chăng.

Theo Hưng Phú (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Khám phá Ô Tà Sóc
Dưới chân Ô Tà Sóc…
Khu di tích Ma Thiên Lãnh - Ô Tà Sóc
Khám phá Ô Tà Sóc (An Giang)

Saturday, 26 April 2014

Quần thể di tích Đền Sóc (Sóc Sơn, Hà Nội) với những di tích thờ phụng, tôn vinh người anh hùng Thánh Gióng trải từ chân núi lên đến đỉnh núi Vệ Linh, nằm trong địa bàn thôn Vệ Linh, xã Phù Linh (trước kia thuộc Vĩnh Phúc, từ năm 1976 chuyển về trực thuộc Hà Nội).

Nguyên thủy, đền Sóc xây dựng từ năm 980, thời Tiền Lê (980 - 1009), đến nay đã trải qua 13 lần trùng tu, lần gần nhất diễn ra năm 1992 nhưng vẫn giữ được kiểu dáng kiến trúc, quy mô, vị trí của các công trình. Trong thế kỷ XX, mặc dù phải trải qua hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm nhưng hầu như các di tích trong khu vực không bị ảnh hưởng. Hiện nay, do sự phân cấp quản lý, tu tạo khá cụ thể và hiệu quả, khu di tích thực sự là một điểm đến đầy hấp dẫn đối với du khách gần xa khi đến thăm lại nơi đã ra đời những huyền thoại tuyệt đẹp về con người Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước.

Trước khi lên thăm các ngọn núi, du khách vào thăm các di tích ở khu vực dưới chân núi Sóc. Đó là đền Trình, đền Mẫu, chùa Đại Bi và đền Thượng, bốn điểm di tích được bố trí rất gần nhau. Tâm điểm của quần thể di tích là đền Thượng, nơi thờ đức Thánh Gióng, người đã có công đánh đuổi giặc Ân ra khỏi bờ cõi nước nhà. Đó là ngôi đền có quy mô đồ sộ, kiến trúc theo kiểu chuôi vồ, bên ngoài gồm 5 gian hai chái, phía trong là hậu cung. Cách bài trí trong đền, cách sắp xếp đồ thờ, khí tự... tạo ra sự linh thiêng của nơi thờ cúng thần linh, mang đậm dấu ấn văn hóa Việt.
Theo con đường quanh co dẫn lên núi Sóc, du khách sẽ tới thăm nơi người anh hùng Thánh Gióng để lại dấu tích trước khi bay về trời.

Núi Sóc Sơn nằm trong hệ thống mạch núi Tam Đảo, gồm nhiều ngọn núi nằm trên hai huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và Sóc Sơn (Hà Nội), tạo thành ranh giới tự nhiên giữa Hà Nội và các tỉnh lân cận. Núi Sóc còn có tên gọi là núi Mã, núi Dền hay núi Vệ Linh, cách trung tâm huyện lỵ 4km về phía Tây. Đứng ở một vị trí thuận lợi trên đỉnh núi, du khách có thể bao quát cả một vùng non nước mỹ lệ.

Không xa núi Sóc là ngọn Hàm Lợn (trên núi Hàm Lợn, còn gọi là núi Chân Chim), ngọn cao nhất trong hệ thống núi ở Sóc Sơn với 462m so với mực nước biển. Đó chính là đỉnh của núi Độc Tôn theo sử cũ và từng được ghi lại trong ca dao cổ với niềm tự hào về truyền thống đánh giặc của dân tộc (Nhất cao là núi Ba Vì/Thứ ba Tam Đảo, thứ nhì Độc Tôn – tất nhiên là cách đo theo cảm hứng tự hào về bề dày truyền thống yêu nước và đánh giặc của dân tộc chứ không phải là cách đo thuần túy theo khoa học). Đó còn là nơi mà quận Hẻo Nguyễn Danh Phương đã lập doanh trại để nổi dậy chống lại chế độ phong kiến Lê - Trịnh hà khắc những năm 40 của thế kỷ XVIII.

Phía Đông núi Hàm Lợn có núi Don cao 327m. Về phía Bắc có núi Thanh Lanh cao 427m, núi Bà Tượng cao 334m, núi Lục Dinh cao 294m. Ngoài ra, còn có các ngọn núi Bàn Cờ, Cao Tung, Mũi Cày, Trảm Tướng...
Lịch sử ngẫu nhiên (mà cũng tất nhiên chăng?) khi chọn núi Sóc Sơn cao 308m để ghi lại dấu ấn lịch sử hào hùng qua hình tượng người anh hùng làng Gióng “phá tặc thượng hiềm tam tuế vãn/đằng không do hận cửu thiên đê” (đánh giặc lúc ba tuổi vẫn cho là muộn/lên chín tầng trời vẫn hận chưa cao - thơ Chu Thần Cao Bá Quát, 1805- 1855).

Đứng trên đỉnh núi Vệ Linh, tương truyền là nơi Thánh Gióng bay về trời, du khách sẽ cảm nhận hết vẻ đẹp về hình thế địa lý, vẻ đẹp thiên nhiên của ngọn núi có rất nhiều thông và còn khá nhiều cổ thụ trong khu vực thắng cảnh. Cũng trong giây phút đặt chân lên chỗ người anh hùng huyền thoại sau khi hoàn thành sứ mạng của mình đã bay lên trời trong ánh hào quang sáng rực, du khách có thể hình dung lại cả một quá khứ hào hùng để thêm tự hào về đất nước mình, dân tộc mình.

Tại khu vực di tích đền Sóc, vào ngày 6 tháng Giêng âm lịch hàng năm, nhân dân trong vùng lại tưng bừng bước vào lễ hội 3 ngày để tưởng nhớ người anh hùng Thánh Gióng (còn tại quê hương của người anh hùng, làng Phù Đổng, Gia Lâm, thì lễ hội diễn ra vào ngày 09/4). Trò chơi đặc sắc nhất của lễ hội đền Sóc là trò cướp giò hoa. Giò hoa gồm 500 bông được làm băng tre non, mô phỏng lại tích Thánh Gióng khi roi sắt gẫy đã nhổ tre hai bên đường làm vũ khí tiếp tục đánh giặc.

Tương truyền, trong lễ hội đầu tiên thuở xa xưa, khi dân làng dâng giò hoa tre, loại hoa có sắc mà không có hương này lên lễ Thánh thì được Thánh chấp nhận vì nó tinh khiết, không có loài ong bướm nào có thể làm ô uế được. Trò cướp giò hoa diễn ra trong ngày đầu tiên của lễ hội, chỉ sau chừng nửa giờ khi đã kết thúc phần tế Thánh. Đó là phần hứng khởi nhất của những người tham dự lễ hội đền Sóc, không chỉ là trò mua vui, giải trí mà thực sự đã đi vào tiềm thức, tâm linh văn hóa những người dự hội, để lại dấu ấn tinh thần sâu sắc.

Theo Hà Nội Mới
Du lịch, GO!

Tuesday, 22 April 2014

Lắng nghe gió về luồn qua những thung khe ở sườn núi, len dần lên đỉnh qua tán thông tạo ra âm thanh u…u… như tiếng chuông đang thỉnh. Lên đỉnh núi vãn cảnh đền Dành, sơn thủy hữu tình, không khí trong lành, trong tiếng chuông và tiếng chim chóc trong tán lá rừng… chợt thấy lòng thanh tịnh.

Giữa dải đồi lúp xúp như bát úp men theo dòng sông Thương, núi Dành đột ngột nhô cao. Từ ngàn đời nay, người dân các làng Hậu xã Liên Chung, Um Ngò, Đồng Sen xã Việt Lập vẫn gọi đây là núi Chung Sơn, tức núi Chuông.

Trên địa bàn huyện Tân Yên có hai quả núi lớn, đó là núi Đót xã Phúc Sơn và núi Dành xã Liên Sơn đều cao hơn 120 m. So với nhiều quả núi khác thì độ cao này rất khiêm tốn. Nhưng cổ nhân từng nói: "Núi không cần cao, trên núi có tiên ở khắc linh; đầm không cần sâu, dưới có rồng ở khắc thiêng”. Ý nói về linh vật và núi Dành có điều đó, đây cũng là lý do để đền Dành, núi Dành thêm linh thiêng.

< Đền Dành.

Trên đỉnh núi Dành, có ngôi đền nhỏ tọa lạc là đền Dành, thờ Cao Sơn Quí Minh. Đền luôn gắn với lễ hội Bảo Lộc Sơn, hay còn gọi là hội Tứ Đình xã Việt Lập ở phía nam núi và lễ hội Dành, hay còn gọi hội Tam đình xã Liên Chung phía đối diện. Trung tâm hội Tứ Đình hay hội Bảo Lộc Sơn tại đình Um Ngò xây dựng năm 1775.

Vào hội, ngày 16 tháng Giêng, dân ba làng lân cận rước kiệu về đình Um Ngò rồi cùng rước lên đền Hạ. Trung tâm hội ba đình xã Liên Chung bắt đầu từ ngôi đình Vường thôn Hậu có niên đại thế kỷ XVIII. Vào hội, ngày 18 tháng Giêng, các làng: Hậu, Hương, Sấu Bến cùng tụ tập về và rước kiệu lên đền Thượng trên đỉnh núi.


< Biểu diễn Hát ví, Hát ống truyền thống của xã Liên Chung tại Lễ hội núi Dành.

Xung quanh núi Dành có nhiều những câu chuyện dân gian. Với đền Dành chuyện kể rằng, qua một thời kỳ vàng son, đến chiến tranh trận mạc, đền Dành xuống cấp, hoang phế chìm dần vào trong cây cỏ. Khi đó có một gia đình nghèo khó dưới chân núi thường lên núi Dành hái củi để bán. Một lần họ dừng chân trước phế tích của ngôi đền, không cầm lòng trước vẻ hoang tàn liền thưa rằng: "Nếu các ngài phù hộ cho chúng tôi khấm khá, chúng tôi nguyện sẽ sửa lại ngôi đền”. Sau đó không lâu, gia cảnh của nhà nọ trở nên giàu có. Nhớ lại lời hứa năm xưa, họ đã bỏ tiền của hưng công dựng lại ngôi đền, cột tròn làm bằng đá vôi.

Trong khởi nghĩa Yên Thế, tổng Bảo Lộc Sơn (khu vực xã Liên Chung ngày nay) là địa bàn hoạt động của nghĩa quân. Sau thời kỳ tiền khởi nghĩa, rồi giặc Pháp xâm lược trở lại, núi Dành khi đó là điểm tiền tiêu của căn cứ cách mạng, từ đây có thể bao quát cả vùng Phủ Lạng Thương xưa (TP Bắc Giang ngày nay) và Lạng Giang, Việt Yên. Giặc Pháp bắn pháo dữ dội lên núi, hai chiến sĩ du kích đã hy sinh và ngôi đền Dành lại một lần nữa bị tàn phá, núi Dành trơ trụi. Mãi cho đến về sau này, khi HTX nông nghiệp thời kỳ hưng vượng, xã viên đưa thông lên núi trồng, sau đó người dân tự góp công dựng lại ngôi đền, mộ của hai liệt sĩ được đặt ngay đầu núi, cách đền không xa. Mười lăm năm trước, đường lên núi Dành chỉ là con đường mòn nhỏ, len giữa cây bụi và đá, nhưng du khách thập phương đã tụ về rất đông.

< Đường lên Núi Dành.

Những năm 2002- 2004 bà con nhân dân xã Liên Chung, Việt Lập mà nòng cốt là Hội Người cao tuổi hưng công làm đường, gánh gạch, cát, xi măng và nước từ chân núi lên, xây hàng trăm bậc gạch. Lại trồng thêm hàng ngàn cây keo, núi Dành đã xanh trở lại. Dưới chân núi, xây lại đền Trình, sửa lại Giếng Tiên. Hội núi Dành cũng dược nâng cấp, trở thành một trong bốn lễ hội trọng điểm của huyện Tân Yên.

Núi Dành có linh vật là sâm nam. Thời nay, chưa nhiều người biết tới nhưng nó đã được nhắc đến cách đây trên trăm năm. Sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn có chép rằng: "Núi Chung Sơn ở xã Bảo Lộc, thuộc địa giới Yên Thế sản xuất ra sâm nam và cỏ thi…”.

< Múa lân trong hội đền Dành.

Truyền thuyết sâm núi Dành được người dân trong vùng kể lại: Xưa có chàng mồ côi cha nghèo khó, mẹ ốm nặng không có tiền mua thuốc. Một hôm nằm mơ thấy tiên ông chỉ đường lên một ngọn núi cao để đào cây thuốc về sắc cho mẹ uống. Bà mẹ uống thuốc đó liền khỏi bệnh. Từ đó, anh rất chăm chỉ trồng và tìm kiếm cây thuốc này cứu chữa cho nhiều người trong vùng.

Lại có chuyện rằng: Xưa có mẹ vua bỗng dưng loà mắt, các thầy thuốc chạy chữa bao năm không khỏi, có người dâng sâm nam núi Dành làm thuốc chữa cho mắt mẹ vua bỗng sáng lại như thường. Vì thế dân gian có câu: "Sâm nam nổi tiếng núi Dành/ Chữa loà cho mắt lại lành như xưa”.

Những năm 50 của thế kỷ trước, khi núi Dành trơ trụi, sâm nam núi Dành mất dạng, từ đó không còn ai biết củ sâm, cây sâm nam ra sao và đều nghĩ linh vật này đã tuyệt diệt. Nhưng thật may mắn, theo điều tra năm 2007 tại đây vẫn còn vài ba gốc sâm nam được người dân giấu kín. Từ một đề án khoa học triển khai năm 2012- 2013 đến nay sâm nam đã có gần nghìn gốc. Tại đỉnh núi Dành, nơi ngôi đền tọa lạc, sâm nam cũng đã mọc trở lại.

Được biết UBND huyện Tân Yên đã có kế hoạch xây dựng Khu di tích núi Dành phát triển thành khu du lịch sinh thái tâm linh, công việc đang được triển khai. Núi Dành và đền Dành đã và đang trở thành địa chỉ được nhiều người biết đến và lui tới.

Theo Châu Giang (báo Bắc Giang)

Hiểu thêm thắng cảnh núi Dành

Núi Dành hay còn gọi là núi Chung Sơn – một ngọn núi cao, phong cảnh đẹp nổi tiếng thuộc địa phận hai xã Việt Lập và Liên Chung. Đường từ chân núi lên là những bậc đá rêu phong, thi thoảng lại có những đoạn được lát bằng gạch chỉ, khi bằng phẳng, khi thoai thoải, hoặc đột ngột dựng cao; hai bên đường xung quanh là những đồi thông, bạch đàn, rừng keo xanh tốt.

Núi Chung Sơn có nghĩa là ngọn núi tựa như một quả chuông lớn đặt ở phía nam của huyện. Cận kề ngọn núi ấy có hai dòng sông lớn là sông Thương và sông Nhâm Ngao. Thế núi uốn lượn, uyển chuyển quanh năm soi bóng xuống sông Thương xanh trong tạo nên một khung cảnh sơn thuỷ hữu tình. Trên núi có nhiều thông xanh, cảnh sắc thâm u, tĩnh mịch, mát mẻ, gió reo vi vút quanh năm. Núi Dành là ngọn núi quý của vùng, chung đúc được nhiều khí thiêng của trời đất, sản sinh ra hai loài thảo mộc: sâm núi Dành và hành Liên Bộ. Từ lâu, dân gian vẫn có câu ca rằng:

Sâm Nam nổi tiếng núi Dành,
Chợ đầy nhan nhản những hành Chung Sơn.
Sông Thương uốn khúc lượn quanh,
Cá nhiều tôm sẵn Lãn Tranh giỏi chài.

Quanh núi Dành còn có nhiều di tích cổ, điển hình như: lăng đá quan Thái Bảo, chùa Thú, chùa không Bụt, chùa Chàng, đình Nguyễn, đình Vường, đình chùa Lãn Tranh, mộ quan Nguyễn Đắc Thọ, đền Núi Dành… Hàng năm vào dịp đầu xuân, hệ thống các di tích ấy lại tưng bừng mở hội thật long trọng. Trong hội  lệ có tế lễ, rước kiệu thờ uy nghi, cùng với hàng loạt các trò chơi dân gian độc đáo (cướp cầu, vật, chọi gà, cờ tướng, leo cầu kiều…) thu hút rất đông người đến tham dự. Trong tiết trời xuân ấm áp, được cùng người thân, bạn bè trẩy hội, leo núi, ngắm cảnh núi Dành thông xanh bát ngát thì thật không gì vui sướng hơn.

Núi Dành Phong cảnh hữu tình, lại có những dấu tích cổ xưa, chính là thế mạnh để trở thành khu du lịch sinh thái của huyện Tân Yên. Trong tương lai, nếu đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng du lịch cho hệ thống khu di tích quanh núi Dành thì chắc rằng lượng khách đến thăm quan sẽ ngày càng nhiều.
(Phùng Thị Mai Anh)

Du lịch, GO!

Lịch sử đăng bài

Powered by Blogger.

Bài đăng mới

Thích thì click!^^

Bải đăng phổ biến