Showing posts with label Biển. Show all posts
Showing posts with label Biển. Show all posts

Thursday, 29 May 2014

(ANTĐ) - Quảng Trị có những bờ biển dài với cát trắng, biển xanh, gió Lào mà bất cứ ai từng đến sẽ không thể nào quên. Quảng Trị, mảnh đất đầy nắng và gió, nơi mà mỗi khi nhắc đến người ta thường nghĩ ngay tới cuộc chiến tranh chống Mỹ nhưng không chỉ có thế, nơi đây còn là  một thiên đường biển ở nơi gió cát.

< Bình minh trên biển Cửa Tùng.

Các bãi biển ở Quảng Trị đều nằm kề quốc lộ. Bãi biển Cửa Tùng, bãi biển Cửa Việt là hai bãi riêng nhưng gần như nối với nhau tạo thành bãi tắm dài tưởng như bất tận. Người tắm biển ở Cửa Tùng có thể cứ men theo bãi cát mà đi, cũng có thể đi trên con đường ven biển để đến bãi tắm Cửa Việt.

Cụm bãi biển Cửa Tùng - Cửa Việt đẹp mơ màng dưới nắng với bãi cát trắng, phẳng mịn, dịu dàng cùng trời nước bao la. Nơi đây có 8 mũi đất bazan đỏ như ráng chiều cùng chạy xô ra biển, tạo thành một chiếc lược kì vĩ, ngàn đời chải mượt triệu lớp sóng xanh. Ngoài khơi xa, đảo Cồn Cỏ hay còn có tên gọi khác là đảo Thảo Phù, đảo Con Hổ hay Hòn Mệ, huyện đảo tiền tiêu của cả vùng duyên hải Bắc Trung bộ và cũng là huyện đảo có số lượng cư dân ít nhất trên thế giới. Cồn Cỏ như một con rùa vàng nổi lên trên mặt biển xanh bao la gợi ra bao ý tưởng về huyền thoại thuở hoang sơ. Ở vào vị trí ấy, Cửa Tùng có thể ví như “Nữ hoàng” tựa lưng vào làng biển Vĩnh Quang bốn mùa rợp xanh bóng mát và rừng phi lao rì rào trong gió.

Cửa Tùng từng được mệnh danh là “Nữ hoàng của những bãi tắm”. Nơi trước kia, vào thời kỳ Pháp thuộc, Cửa Tùng đã từng được chọn là điểm nghỉ ngơi cuối tuần của các sỹ quan người Pháp. Trước đó, Cửa Tùng cũng là nơi vua Duy Tân từng ngự lãm, nghỉ ngơi. Cho đến nay, biển Cửa Tùng vẫn còn ngôi nhà nơi vua từng ngự, nhà Thừa Lương Cửa Tùng.

Cùng với cảnh quan đẹp, biển Quảng Trị là nơi có điều kiện rất tốt về hải văn. Nhiệt độ nước trung bình hàng năm 23 độ C, độ mặn khoảng 32-33%, có nhiều sóng rất phù hợp cho hoạt động tắm biển. Đây là môi trường lý tưởng để phát triển loại hình du lịch nghỉ ngơi tắm biển. Đảo Cồn Cỏ - Cửa Việt - Cửa Tùng hợp thành một tổ hợp thiên nhiên hấp dẫn. Đến Cửa Tùng, Cửa Việt, đắm mình trong dòng nước trong xanh,  tham gia vào các trò chơi biển, thưởng thức những món hải sản tươi bổ dưỡng, thơm ngon... Cùng trải nghiệm cuộc sống của ngư dân Cồn Cỏ sẽ là những giây phút thật sảng khoái, khó quên đối với du khách khi đã một lần đến với miền Trung, đến với Quảng Trị.

Theo Vũ Thanh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!
(TTO) - Chuyến đi đầu tiên của tàu De Lanessan đưa các nhà khoa học của Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương đến quần đảo Hoàng Sa vào tháng 6-1925, bắt đầu nghiên cứu sự kiến tạo địa chất kỳ diệu của quần đảo này.

Đến vùng đảo hoang vắng

Khi các nhà khoa học đặt chân lên các đảo ở Hoàng Sa, chào đón họ chỉ có các loài chim trời. Thảng hoặc họ mới bắt gặp những người đi biển dài ngày ghé lên đảo. Ấn tượng đó, sau này được TS P. Chevey kể lại trong báo cáo của Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương năm 1925-1926: Chúng tôi chỉ thấy có một ít thuyền buồm đến những đảo nhỏ hoang vắng này để đánh bắt rùa biển, trai biển khổng lồ (tridacna), hải sâm và các loài hải sản khác mà người ta chỉ thấy trên những đảo san hô.

Thật ra, đấy không phải là những thuyền buồm của người chuyên đánh cá đến để khai thác hải sản trên dải đá ngầm của quần đảo Hoàng Sa. Đây là những nhà hàng hải mà hằng năm chúng tôi vẫn thấy họ qua lại vào thời gian gió mùa. Trong khoảng thời gian gió mùa đó, mọi hoạt động hàng hải đều bị cấm, họ đến đây để làm giảm bớt nỗi buồn bã của mùa “chết” này bằng cách tranh thủ đánh cá trên những dải đá ngầm của quần đảo xa xôi”.

Trước sự kiện tàu De Lanessan đến đây, theo “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của Monique Chemillier - Gendreau, từ năm 1881-1884, người Đức từng tiến hành nghiên cứu có hệ thống tình hình thủy văn của quần đảo Hoàng Sa mà không có một trong những yêu sách nào đi theo. Vì thế, cuộc khảo sát của Sở Hải dương học nghề cá được coi là hoạt động khoa học đầu tiên thể hiện chủ quyền của Việt Nam (thuộc Pháp) trên quần đảo Hoàng Sa.

Thám sát thềm lục địa

Cách thức thám sát thềm lục địa được TS P. Chevey mô tả: “Những phương pháp chiếu sáng đáy biển mà chúng tôi sử dụng trong khi nghiên cứu đã cho phép quan sát được địa hình đáy biển những vùng này, cũng như những khối lớp không đều đặn của các đảo và vùng trũng sâu bao phủ dày cát và cuội san hô, nếu như chúng tôi có thể đi đến giữa những chỗ đó”.

Tàu De Lanessan đã thực hiện hàng loạt phương pháp thăm dò và kéo lưới cào để khảo sát thềm lục địa. Qua đó, các nhà khoa học đã tìm thấy sự hình thành nền quần đảo Hoàng Sa. “Chúng tôi đã phát hiện thấy sự kiến tạo dưới biển quan trọng trong đợt nghiên cứu vừa mới tiến hành ở khối đảo cách ly ở giữa biển Đông, bao gồm quần đảo Hoàng Sa - TS P. Chevey thuật lại - Qua những thăm dò ở thềm lục địa quần đảo Hoàng Sa mà ở đó có những đá ngầm và đảo nhỏ nhô lên, chúng tôi đã xác lập được rằng đáy biển này sâu từ 40-100m, được tạo nên từ những nguyên liệu thuộc nhóm cuối cùng bởi các trầm tích san hô. Đó là một bề mặt mà địa hình thuộc thời kỳ băng hà bị nước biển bao phủ sau lần tan băng cuối cùng, sau đó dần dần tách khỏi bờ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho san hô phát triển. Ngày nay nó được bao phủ bởi một lớp san hô đang sống, cát và cuội san hô”.

“Chúng tôi lại thấy thềm lục địa này ở ven bờ biển Đông Dương, tại chân núi Trường Sơn cũng như ở cao nguyên dưới biển của quần đảo Hoàng Sa. Ở đây, nó nhô lên như một đảo cách ly ở giữa vùng nước biển Đông và các tảng đá ngầm của nó, hầu như dựng đứng, đột nhiên lại tụt xuống sâu hàng nghìn mét” (Báo cáo của Sở Hải dương học nghề cá, năm 1925-1926).

Cao nguyên đáy biển

Từ quá trình khảo sát thềm lục địa, các nhà khoa học nhận thấy quần đảo Hoàng Sa với 36 đảo lớn nhỏ có thể nổi hoàn toàn khi triều cao (và một số khác thường xuyên chìm trong nước) là nhờ đứng trên một... cao nguyên mà các nhà khoa học gọi là “cao nguyên đáy biển”. “Cao nguyên đáy biển của quần đảo Hoàng Sa xuất hiện đột nhiên giữa biển Đông cách đáy biển hàng nghìn mét và nhô lên dưới mặt nước biển từ 40-100m bởi một vách đá hầu như thẳng đứng đến tận đáy biển”- báo cáo của TS P. Chevey mô tả. Sự hình thành cao nguyên đặc biệt này - theo kết luận của các nhà khoa học - “có cùng nguyên nhân địa chất xảy ra ở các bậc thềm khác nhau ở một vùng độ sâu và những bậc thềm nằm song song với đường bờ dọc theo các vùng duyên hải của Đông Dương”.

Cùng với kết luận này, nghiên cứu “Hình dạng các đảo san hô ngầm và chế độ gió” của TS A.Krempf (công bố năm 1927) cho thấy đầy đủ quá trình hình thành các đảo ở Hoàng Sa từ địa chất đến hình dạng. TS P. Chevey, trong báo cáo năm 1930-1931, đã kể lại: “Trong năm 1926, chúng tôi đã thăm đảo đá ngầm rất đẹp Decouverte, hình thái cấu tạo của nó chứng minh rõ ràng ảnh hưởng của gió mùa tới sự hình thành của các đảo san hô. Trong đảo ngầm này có hai tập đoàn phát triển về hai hướng nghịch nhau đông bắc và tây nam, ở phần đỉnh của những dải này có hai lối vào các vùng tại giữa đảo san hô này chưa khép kín.

Hai đảo đá ngầm ấy, đảo ngầm Chim Yến và đảo ngầm Bắc, là một vùng đã nổi lên từ rất lâu. Đảo ngầm Chim Yến có dạng hình vòng đầy đủ, nhưng bờ ở phía đông bắc dày hơn vùng bờ phía tây nam, như vậy chứng tỏ gió mùa đông ảnh hưởng lên sự tiến hóa của đảo. Do đó, vùng giữa đảo đi lệch tâm và đẩy về phía tây nam. Tuy nhiên, ở phía tây bắc có một vùng san hô rất mỏng và không nổi lên, mặc dù không bị ngắt quãng nhưng những thuyền nhỏ có thể đi vào vùng bên trong được. Tại đây có một dải màu xanh khá đặc biệt của những đảo san hô do phản chiếu những tia nắng mặt trời trên nền cát trắng ở bờ vụng qua lớp nước mỏng xa bờ một chút. Chắc chắn vị trí này không phải giải thích như là một chỗ nối không hoàn toàn những đầu bờ của hai tập đoàn san hô đang phát triển mới tách rời nhau và bấy giờ nối lại với nhau gần như đã kết thúc. Ở đây có dấu tích một con lạch cũ trong vụng”.

Quần đảo Hoàng Sa như vậy đã cung cấp cho chúng ta một dẫn chứng rõ ràng về những giả thiết của A.Krempf đã đặt ra từ nhiều năm trước đây. Từ năm 1921, ông đã mô tả ba vòng đảo san hô Decouverte tiến hóa nhất, đảo ngầm Chim Yến thì ngược lại, tạo thành một vòng san hô khép kín”.

7 chuyến khảo sát hải dương học tại Hoàng Sa (1925-1953)

* Tàu De Lanessan có bốn chuyến khảo sát: tháng 6-1925, tháng 6 và 7-1926, tháng 5 và 6-1931, tháng 10-1935.
* Tàu La Marne: tháng 10-1937.
* Tàu Marine National: tháng 4-1949.
* Tàu La Charante: tháng 7-1953.

Các kết quả nghiên cứu được công bố trong các báo cáo thường niên của Viện Hải dương học và trên một số tạp chí khoa học và sách trong giai đoạn 1927-1957 (Theo báo cáo của Viện Hải dương học tại Hội nghị quốc tế biển Đông năm 2012: 90 năm các hoạt động hải dương học trên vùng biển VN và lân cận).

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 ...

Theo Huỳnh Hiếu (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
(TTO) - Những trang tư liệu hải dương học đầu thế kỷ 20 đã khẳng định: Hoàng Sa là của Việt Nam...

Hoàng Sa - Việt Nam!

Việc Trung Quốc cho rằng giàn khoan Hải Dương 981 được đặt trong vùng đặc quyền kinh tế của họ là một sự bịa đặt và không có căn cứ pháp lý. Lợi dụng những khó khăn và biến động ở Việt Nam, quân đội Trung Quốc đã xâm chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực.
Trước đó, quần đảo Hoàng Sa hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam. Những trang tư liệu hải dương học đầu thế kỷ 20 đã nói rõ điều này...
Công cuộc khảo sát và khai thác quần đảo Hoàng Sa những năm đầu thế kỷ trước in đậm dấu ấn con tàu hải dương học đầu tiên ở Việt Nam.

Từ Bordeaux...

Theo tài liệu “Viện Hải dương học Đông Dương” của TS Armand Krempf (xuất bản năm 1931), con tàu này được bàn giao cho Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương vào ngày 21-6-1924 tại cảng Bordeaux (Pháp). Đó là con tàu chạy bằng hơi nước được chuyển đổi công năng để phục vụ việc thám sát biển dài ngày.

Tàu mang tên De Lanessan nhằm ghi nhớ về vị bác sĩ hải quân Jean-Marie de Lanessan, một nhân vật đặc biệt trong giới khoa học và chính trường nước Pháp. De Lanessan tốt nghiệp đại học y khoa tại Bordeaux, học tiếp ở Trường Hải quân Rochefort (nơi ông làm trợ lý bác sĩ phẫu thuật), rồi trở thành bác sĩ trong hải quân với tám năm lênh đênh trên các vùng biển châu Phi và Đông Dương. Năm 1870, ông rời lực lượng hải quân để nghiên cứu y học và tự nhiên học, rồi trở thành giáo sư tại Đại học Khoa học Paris. Chín năm sau, người ta thấy ông hoạt động chính trường với tư cách một ứng cử viên độc lập ở hội đồng thành phố Paris. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm toàn quyền Đông Dương (1891-1894), trước khi giữ chức bộ trưởng Bộ Hải quân trong nội các Waldeck-Rousseau (1899-1902).

Tàu De Lanessan có trọng tải 750 tấn, dài 45m, mặt boong rộng 7,63m, mớn nước 4,45m, công suất 350CV. Nó được trang bị lưới quét cùng nhiều máy móc hiện đại, theo đề án gửi về Paris của TS A. Krempf, giám đốc Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương lúc bấy giờ. Việc nghiên cứu biển và các quần đảo giữa trùng khơi biển Đông khi đó cấp thiết phải có một chiếc tàu lớn. Vì thế sau khi chạy thử thành công ở cảng Bordeaux, lập tức con tàu được bàn giao cho Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương, để lên đường sang Việt Nam.

Đến Hải Phòng

Sở Hải dương học nghề cá Đông dương (Service océanographique des pêches de l’Indochine) được thành lập theo quyết định của ông Baudoin - toàn quyền Đông Dương, trước đó gần hai năm (vào ngày 14-9-1922). Trụ sở được đặt tại Nha Trang, một thành phố xinh đẹp ở miền Trung Việt Nam, nơi mà nhà bác học Alexandre Yersin danh tiếng chọn để gắn bó đời mình. Theo những tài liệu lưu trữ tại Viện Hải dương học, TS A. Krempf - nguyên giám đốc Viện Khoa học Đông Dương - nhận lãnh trọng trách giám đốc sở này ngay thời điểm vạn sự khởi đầu nan. Dưới sự chỉ huy của ông, ngay sau khi sở này thành lập, tại khu đất cao bên bờ biển luôn ngập nắng miền nhiệt đới, rộng đến 20ha, kéo dài từ phía bắc cảng Cầu Đá lên tới lầu Bảo Đại, đã mọc lên những nhà xưởng đầu tiên.

Từ đây có thể phóng mắt ra một vùng biển rộng mênh mông. Biển ven bờ ở nơi này thuộc loại sâu nhất ở Việt Nam, rất gần với hải phận quốc tế và vùng trung tâm biển Đông. Đây cũng là nơi gặp gỡ của hai dòng hải lưu nóng - lạnh, một từ phương bắc xuống và một từ xích đạo ngược lên, tạo nên một môi trường lý tưởng cho nhiều loài sinh vật biển định cư, đặc biệt là các rạn san hô cùng hệ sinh vật sống cộng sinh.

Tại đây TS A.Krempf bắt đầu thực hiện sứ mệnh khám phá biển Đông với các cộng sự: hai nhà nghiên cứu ngư học là TS Pierre Chevey và TS Paul Chabanaud, nhà nghiên cứu hóa sinh học - TS Henri Marcelet (người Pháp), nhà nghiên cứu động vật không xương sống ở biển- TS Constantin Dawydoff (người Nga) cùng ông Nguyễn Công Tiêu, nhà nghiên cứu động vật giun nhiều tơ (người Việt Nam). Vỏn vẹn chỉ sáu nhà khoa học lúc đầu nhưng phải gánh vác một nhiệm vụ lớn lao đã được ghi trong quyết định thành lập Sở Hải dương học nghề cá: “Khảo sát điều kiện tự nhiên và nguồn lợi sinh vật, kết hợp với việc đánh cá ở biển Đông, bao gồm hai quần đảo Paracels (Hoàng Sa), Spratly (Trường Sa) và biển Hồ ở Campuchia để xác định chiến lược cho nghề khai thác cá ở Đông Dương. Đồng thời triển khai nghiên cứu các công nghệ chế biến và nuôi trồng hải sản”.

Trở lại với câu chuyện con tàu De Lanessan. Sau một hải trình 63 ngày sóng gió, ngày 7-11-1924 tàu đã cập cảng Hải Phòng. Nó phải mất một thời gian ở đây để thực hiện các công việc đăng ký, đăng kiểm. Đến mùa đi biển chính của năm sau, khi việc đăng kiểm đã hoàn thành, ngày 7-4-1925 tàu De Lanessan được điều động đến vịnh Bắc bộ. Một ngày sau đó, nó đánh mẻ lưới thí nghiệm đầu tiên tại tọa độ 20 độ vĩ bắc và 106,5 độ kinh đông. Kể từ đó, nhật ký hải trình của con tàu ghi dấu những chuyến thám sát dài ngày của các nhà khoa học thuộc Sở Hải dương học nghề cá khi đó và Viện Hải dương học sau này.

Sứ mệnh lịch sử

Nhờ hoạt động hiệu quả của tàu De Lanessan - theo PGS. TS Võ Sĩ Tuấn, viện trưởng Viện Hải dương học - ngay sau khi thành lập, Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương lúc đó đã mở rộng phạm vi nghiên cứu và thu thập thông tin xuống phía nam (vịnh Thái Lan), lên phía bắc (vịnh Bắc bộ), ra các vùng khơi xa và hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa, khảo sát có hệ thống và định kỳ trên 572 trạm, đặc biệt là hai trạm cố định ở Cầu Đá (Nha Trang) và ở quần đảo Hoàng Sa.

Kể từ năm 1925, tàu De Lanessan đã gắn chặt với các hoạt động của Viện Hải dương học. Trong nhiều báo cáo thường niên của viện đều nhắc đến hoạt động của con tàu. Báo cáo năm 1927-1928 viết: “Trong cả năm hoạt động, tàu De Lanessan đã đi được 106 ngày trên biển, trong đó đã dành trên 300 giờ khảo sát đáy biển và kéo lưới. Như vậy, kể từ khi bắt đầu nghiên cứu đến nay, tổng số giờ chúng tôi dành cho nghiên cứu về địa lý hải dương học và đánh cá ngoài khơi lên đến gần 1.000 giờ”.

Ngày nay bên cảng Cầu Đá (Nha Trang), hầu như ngày nào cũng có du khách nước ngoài háo hức tìm vào khu nhà mang dáng dấp kiến trúc thuộc địa nằm sâu trong khuôn viên của Viện Hải dương học. Đó là Bảo tàng Hải dương học Việt Nam, một trong những bảo tàng lâu đời nhất ở Đông Nam Á. Tại đây, họ thường dừng lại rất lâu trước bức ảnh đen trắng phóng lớn của tàu De Lanessan, được đặt ở một góc trưng bày khá trang trọng.
Một chương lịch sử sóng gió của biển Đông như ngưng đọng ở góc trưng bày này.

Gần một thế kỷ hoạt động hải dương học trên vùng biển Việt Nam và lân cận

Theo PGS. TS Võ Sĩ Tuấn - viện trưởng Viện Hải dương học, Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương (tiền thân của Viện Hải dương học) được thành lập vào năm 1922. Đến năm 1930 đổi tên thành Viện Hải dương học Đông Dương. Năm 1952 đổi tên thành Viện Hải dương học Nha Trang. Năm 1954 đổi tên thành Hải học viện Nha Trang. Năm 1975 đổi tên thành Viện Nghiên cứu biển Nha Trang (có sáp nhập Viện Nghiên cứu biển Hải Phòng vào). Năm 1993 đổi tên thành Viện Hải dương học.

“Bảo tàng tại viện có khoảng 10.000 mẫu sinh vật lấy từ hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa và một số vùng trên biển Đông. Đó là kết quả sưu tập, nghiên cứu của các nhà khoa học từ đầu thế kỷ 20 trên vùng biển Việt Nam và lân cận. Và đó cũng là bằng chứng góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo thiêng liêng này”- ông Tuấn cho biết. 

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 ...

Theo Huỳnh Hiếu (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Saturday, 24 May 2014

(QNO) - Nằm bên luồng Cửa Đại, rìa đất cuối cùng của TP Hội An, Quảng Nam, Cồn Doi (phường Cửa Đại) trở thành điểm nghỉ ngơi, dã ngoại lý tưởng của du khách và người dân trong những ngày hè nắng nóng.

< Du khách tham gia kéo vó ở Cồn Doi.

Theo giải thích của người dân quanh vùng, Cồn Doi nghĩa là doi cát nổi lên nơi cửa biển. Ngày trước, muốn đến cồn chỉ có cách duy nhất là đi ghe ra vì nơi đây bốn bề giáp nước. Tuy nhiên, hơn một năm trở lại đây việc đi lại dễ dàng hơn khi con đường đất nối với Cồn Doi đã được đắp để phục vụ cho việc vận chuyển nuôi tôm.

Từ bến cảng Cửa Đại nhìn sang, Cồn Doi nổi bật lên với màu xanh của những vạt rừng dương in hình trên sóng nước. Vào ngày nắng nóng, cồn trở thành nơi không thể thiếu của người dân và du khách đến vui chơi, sinh hoạt trên những bãi cát mịn màng hay cắm trại dưới tán lá rừng dương vi vu gió thổi.

Theo vợ chồng ông Mai Văn Trúc - gia đình duy nhất sống trên cồn cát này cho biết, vợ chồng ông vẫn thường đón tiếp những nhóm khách từ Hà Nội, Sài Gòn đến đây dã ngoại, tắm biển ăn uống vui chơi cả buổi chiều. Nhiều khách còn thức cùng ông làm chài, kéo rớ để tận hưởng không khí trong lành về đêm nơi cửa biển, có khi đến tận hôm sau mới trở về.

Những năm gần đây, Cồn Doi càng được biết đến nhiều hơn khi Công ty Du lịch - dịch vụ Khoa Trần chọn làm nơi để đưa khách đến trải nghiệm các công việc chài lưới của ngư dân.

Tại đây, du khách nước ngoài sẽ được ông Trúc hướng dẫn cách quăng lưới, kéo rớ bắt cá… nên ai cũng thích thú. Mỗi lần như vậy ông Trúc được Công ty Khoa Trần trả từ 40 - 80 nghìn đồng tùy theo số lượng khách. Thỉnh thoảng khách Việt đến chơi cũng thuê rớ ông kéo với vẻ tò mò hào hứng, dù phải trả 50 nghìn đồng nhưng ai cũng vui vẻ.

Trưa nắng, ngồi trong căn lều ông Trúc giữa bốn bề cát trắng của Cồn Doi nhưng không khí vẫn mát lạnh. Từng cơn gió từ biển thổi vào mang theo hơi nước cứ mơn man da thịt tạo cho du khách cảm giác sảng khoái lâng lâng như đang ở chốn nào xa lắm chứ không phải chỉ cách phố vài phút xe.

Bây giờ du khách đến Hội An, nhất là các bạn trẻ và khách gia đình người Việt không chỉ được tham quan phố cổ mà còn có thêm một không gian trải nghiệm mới đầy nắng và sóng nước để thỏa thích vui đùa. Và sẽ càng tuyệt vời hơn khi được ngâm mình trong làn nước trong xanh hay nằm dài trên bờ biển, lắng nghe thời gian trôi qua trong tiếng sóng vỗ rì rào, ngắm nhìn những con tàu cao tốc tấp nập đưa khách ra vào Cù Lao Chàm...

Theo Gia Khang (Quảng Nam online)
Du lịch, GO!

Thursday, 22 May 2014

(TPO) - Những con tàu của ngư dân Đà Nẵng, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi… vẫn đang Hoàng Sa thẳng tiến, họ chưa bao giờ quản ngại hiểm nguy. Bởi Hoàng Sa là lẽ sống, là ngôi nhà thực sự của ngư dân.

< Tàu ngư dân trên vùng biển Hoàng Sa.

“Giong cả con tàu mấy tỷ bạc là cả gia sản ra Hoàng Sa, đánh bắt ở vùng biển nóng thời điểm này là mạo hiểm chứ. Nhưng nói đi phải nói lại, ngư trường ông cha mình hoạt động bấy lâu nay, mình không giữ thì còn ai giữ. Bởi thế, nói một câu thật lòng, dù có nguy hiểm gấp mười đi chăng nữa, tụi tui vẫn ra Hoàng Sa” - anh Trương Văn Hay, thuyền trưởng tàu ĐNa 90235 chắc nịch.

“Trung Quốc rút giàn khoan, chúng tôi mới về”

Chúng tôi sang tàu anh Trương Văn Hay trong một đêm tối, khi người thuyền trưởng con tàu được coi là khủng trong tổ đội đánh cá ĐNa 90235 vừa sửa chữa xong phần mạn và dựng lại giàn phía sau. Sau cú húc hung hãn của “trâu đen” 71075, giàn phía sau sụp, riêng mạn trái vỡ toác, nguy cơ nước tràn vào. “Anh em thuyền viên đã phải thức trắng đêm để gia cố. Giờ thì ổn rồi” - anh Hay nói.

Con tàu ĐNa 90235 của đại gia đình họ Trương ở Thanh Khê nức tiếng Đà Nẵng vì làm ăn hiệu quả. Đây cũng là gia đình có đông người bám biển Hoàng Sa từ trước tới nay. Công suất C750CV, con tàu bằng gỗ mới được đại tu của anh Hay hiện có giá gần 5 tỷ đồng, gánh cả niềm tự hào bám biển của Thanh Khê. “Mấy năm trước, gia đình cũng rơi vào cảnh lao đao khi ngành nghề câu mực xà xa bờ chết yểu. Chuyển sang lưới vây, vốn liếng không có, cắm nợ ngân hàng được bao nhiêu đổ vào tàu. Lắm lúc bĩ cực nhưng chưa bao giờ tui nghĩ sẽ có ngày giã từ Hoàng Sa”.

< Hải giám TQ lù lù tiến đến, không khác tàu 'cờ đen'.

Anh Trương Văn Minh, em trai anh Hay, đang là thuyền phó, cho hay, sau khi bị “trâu đen” húc, cứ tưởng phải sớm rời ngư trường, chia tay anh em. Nhưng là tổ đội trưởng, anh cùng anh Hay không cho phép điều đó xảy ra. Anh Minh thành thật: Lần đầu tiên bị truy đuổi gắt gao như thế sau bao năm bám biển Hoàng Sa. Những lần trước có bị hải cảnh, hải giám đe dọa đẩy đuổi, xịt vòi rồng nhưng chưa ăn thua với những ngày qua, lúc nào cũng bị 3 - 4 tàu cá vỏ sắt Trung Quốc quay như chong chóng. Bây giờ thì chúng tôi vô cùng vững tâm. Mình tổ chức đi đánh cá theo từng tổ đội, hỗ trợ nhau trên từng mét biển, dù tàu họ to, vỏ sắt và hung hăng nhưng đố làm gì được mình.

< Ngư dân miền Trung - Những cột mốc can trường giữa Hoàng Sa.

“Tàu sửa xong rồi, tôi cũng đã thống nhất với các anh em qua Icom, trong thời điểm nóng bỏng này, chúng ta bám biển trường kỳ. Lúc nào Trung Quốc rút giàn khoan, điều hết tàu cá, hải cảnh về thì chúng ta mới kết thúc chuyến biển” - anh Hay khảng khái. Nói đoạn, anh bật Icom, hỏi thăm tình hình tàu ĐNa 90406. Anh Cường, máy trưởng tàu cho biết, cú húc từ đuôi và một lần va chạm phần mạn khiến tàu vỡ cabin, gãy cọc và bay mất dàn đèn 6 bóng. “Khắc phục xong rồi, yên tâm không có chuyện chi. Anh em vẫn vững vàng chống chọi, đời nào chấp nhận thua cuộc”. Anh Cường hào hứng nói thêm, gạo còn mấy tạ, thức ăn nước uống đầy đủ. Nước sạch còn đủ dùng cho cả tháng, tinh thần anh em thuyền viên kiên định.

Vẫn không thể không nhắc đến anh Lê Văn Chiến (thuyền trưởng ĐNa 90351), người đã quá quen mặt với độc giả Tiền Phong. Vẫn luôn là lá cờ đầu, xung kích mỗi lần bám biển Hoàng Sa. Anh Chiến hợp cùng ông Còn B và Lê Dũng tạo thành bộ ba lợi hại. Những ngày căng thẳng này, từ sáng đến chiều, bỗng nhận ra bộ ba ĐNa 90039 - 90098 và 90351 không hề bị động trước những “trâu đen, trâu xanh” bố ráp, vây húc. Họ luôn chủ động trong mọi tình huống.

“Nói gì thì nói, chú nể nhất vẫn là thằng Chiến. Nó nhanh, can đảm và đặc biệt luôn nghĩa tình với đồng đội. Nó là đứa cứu sống, giúp đỡ tàu bạn nhiều nhất của làng cá Đà Nẵng” - thuyền trưởng Còn B tâm sự.

“Nếu mình cứ khư khư nghĩ đến cái luồng cá, lợi ích của riêng tàu mình thì nói thật, ngư trường Hoàng Sa đến giờ này đã do ngư dân Trung Quốc làm chủ từ lâu. Đoàn kết và đoàn kết. Chỉ có ra khơi đánh bắt theo tổ đội, kịp thời sát cánh hỗ trợ nhau thì mới thành công” - anh Chiến cho biết.

Tổ quốc, danh dự và trách nhiệm

< Chú Tám: “Bám biển Hoàng Sa lúc này là trách nhiệm và danh dự”.

Những đêm thức trắng, cùng trực canh cabin với chú Tám, tức thuyền trưởng Nguyễn Văn Còn B, tôi chống cơn buồn ngủ bằng cà phê và một cuốn sách về lịch sử quân đội Mỹ. Chú Tám vừa điều khiển tàu, vừa nhìn tôi đọc sách, ánh mắt thán phục thấy rõ. “Chú học hết lớp 5, nghỉ. 17 tuổi đi biển, đến giờ chữ trôi vèo theo từng con sóng. Cả đời chú lênh đênh trên Hoàng Sa, vất vả kiếm tiền nuôi sống gia đình. 60 tuổi rồi mà có được nghỉ ngơi đâu”.

Ông nhìn cuốn sách, hỏi: Nó nói cái chi rứa chú? Tôi kể lại cho ông về những lần được bước lên chiến hạm khổng lồ thuộc Đệ thất hạm đội của Mỹ, về những hào nhoáng, sức mạnh của hải quân Mỹ. “Có một câu trong này rất hay: Tổ quốc, danh dự và trách nhiệm. Đó là câu đầu tiên mà mỗi người dân Mỹ khi gia nhập quân đội đều phải học”. Chú Tám đồng tình: Chính xác, tui lần đầu tiên nghe câu này, nhưng nói thật với chú, anh em trên tàu, mỗi khi nổ máy ra Hoàng Sa đều đồng lòng suy nghĩ: Tổ quốc, danh dự và trách nhiệm. Với tui, danh dự là số 1. Tiền có thể mất, nhưng danh dự người thuyền trưởng không bao giờ cho phép tui thất tín. Ông Còn B kể, trước ngày khởi hành, nhiều người thân can ngăn, ra Hoàng Sa mà lại đánh bắt gần giàn khoan thời điểm này, khác gì nhảy vào lửa.

Chuyến biển trước, tàu ĐNa 90039 lỗ gần 100 triệu vì đi hơn 20 ngày nhưng thu về chỉ được vài tấn. “Nằm bờ cả tháng, thêm tháng nữa có sao. Nhưng mấy anh em bàn nhau ra đánh bắt ở gần giàn khoan, mình là người khởi xướng, phút chót mà rút thì nó khinh”. Trong suốt hải trình, chú Tám cùng ăn, cùng sinh hoạt với thuyền viên lớp tuổi con cháu, hòa đồng vui vẻ. Nhưng tôi quan sát, tuyệt nhiên những mệnh lệnh ông ban ra tựa sức nặng ngàn cân. Tất cả đều răm rắp chấp hành. “Cũng vì thế mà đến giờ tui chưa thể yên tâm bàn giao tàu cho ai. Đang ngon trớn thế này, mình nghỉ, anh em cũng lao đao” – chú Tám tâm sự. 12 thuyền viên trên tàu gắn bó với ông từ thuở mua con tàu nhỏ, công suất 120CV. Sau mấy lần nâng cấp, đến nay đã là 800CV. Tàu lớn, vươn xa và những ngư phủ thiện chiến vẫn gắn bó.

Kình ngư Nguyễn Văn Thành, kể: Tụi tui phục chú Tám ở chỗ quân tử, hết mình vì anh em. Cùng đói, cùng no. Mỗi chuyến biển có thể lời, lỗ, nhưng anh em chưa bao giờ nghĩ sẽ từ bỏ ngư trường Hoàng Sa. Chú Tám thường nhật ăn sóng nói gió, rồi cũng buông một câu, đầy… chữ nghĩa: “Thường ngày đánh cá, nhưng giờ giữa Hoàng Sa, thấy nó ngang ngược như thế, chúng tôi phải lấy Tổ quốc và trách nhiệm làm đầu chứ. Nói thật, những người như chú, dễ ai có được những ngày đối mặt với tàu cá Trung Quốc thời điểm này. Với ngư dân chúng tôi, chuyện không có gì to tát”.

Hải trình mấy ngày liền, mỗi lần ngư dân tổ chức đội hình buông lưới đánh bắt là mỗi lần hàng chục tàu Trung Quốc lao ra ngăn cản. Cường độ, mức độ hung hãn của những “trâu xanh, trâu đen” ngày một tăng thêm. Chuyến biển dài ngày, chưa tàu nào có thành quả ăm ắp đầy khoang như thường nhật. Những con tàu vài tỷ, là gia sản của cả đời ngư phủ, giờ này ở Hoàng Sa, đang đối diện với bao nhiêu nguy biến. Và trước mắt, họ chấp nhận chuyến biển trắng tay. Họ vẫn quyết liệt: “Khi nào Trung Quốc rút giàn khoan, điều tàu về chúng tôi mới kết thúc chuyến biển”.
Và giờ đây, những đội tàu Lý Sơn, Bình Sơn, Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), Huế… lại bắt đầu vươn khơi tiếp sức.

Hết
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4
Theo Nam Cường (báo Tiền Phong)
Du lịch, GO!
(TTO) - Từ Hà Nội, đi chừng 3 tiếng ôtô xuống Hạ Long, tiếp tục lên tầu du lịch đi khoảng 4 tiếng nữa thì đến đảo Quan Lạn. Đảo Quan Lạn, thuộc huyện đảo Vân Đồn, nằm trong vịnh Bái Tử Long còn gọi là đảo Hải Vân gồm hai xã Quan Lạn và Minh Châu.

Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi khi đến Quan Lạn có lẽ là sự hoang sơ. Gió lồng lộng, biển bao la và rừng phi lao vi vút như mời gọi người ta hít cho căng lồng ngực bầu không khí trong lành. Bến tầu Quan Lạn – Đông Hồ, gọi theo cách của người địa phương - chỉ có một hai chiếc thuyền, khác hẳn với cảnh trên bến dưới thuyền của Bến tầu Du lịch Bãi Cháy.

Ven bờ đảo phía Tây đảo là bạt ngàn những bãi sú vẹt. Quan Lạn mùa hè nắng nóng, đầy gió, mùa đông lạnh, người dân địa phương còn nhớ có năm có tuyết rơi. Chúng tôi may mắn được ông Nguyễn Thanh Cấm - Chủ tịch Hội Người cao tuổi dẫn đường đi thăm đảo. Đứng trên cảng Minh Châu ông chỉ cho chúng tôi thấy sông Mang, cửa Tử, cửa Ôn - những địa danh lịch sử.

Chúng tôi vào thăm Miếu thờ Trần Khánh Dư, còn gọi là ngôi nghè thờ Trần Khánh Dư. Một công trình kiến trúc nhỏ hình chữ nhất, tương truyền được dựng lại trên phủ cũ của ông. Ngôi nghè bị đổ nát trong những năm 1960, mới được tôn tạo năm 1995. Trong nghè còn một pho tượng Trần Khánh Dư tương truyền có từ thời Nguyễn và một số hoành phi, câu đối ca ngợi công đức của ông.

Công trình kiến trúc đồ sộ và ấn tượng nhất trên đảo có lẽ là Đình Quan Lạn. Đình được xây từ thời Hậu Lê, có kiến trúc hình chữ công, mặt hướng về phía đất liền, làm bằng gỗ lim quý mọc trên núi đá ở đảo Ba Mùn.

Buổi tối ở Quan Lạn có không khí thật đặc biệt. Chúng tôi say sưa bên đống lửa trại và ăn tối ngay trên bãi biển với các món hải sản nướng đặc biệt. Quan Lạn là đất của nhiều loại hải sản mà ngưòi dân địa phương tự hào: sá sùng, ngao, ngán…

Từ Quan Lạn tới Cái Bầu

Ở Quan Lạn, có lẽ thú vị hơn cả là đi xe đạp quanh đảo. Buổi sáng yên bình, cùng bạn bè đạp xe qua những xóm nhỏ, qua chợ cá râm ran buổi sáng, qua những cồn cát trắng nhiều hoa dại. Ghé thăm cảng cát Vân Hải, Rhona, cô bạn thông minh người Anh ghé tai hỏi tôi: nếu mình cứ khai thác cát thế này, cứ khai thác mãi, rồi khung cảnh không biết còn được giữ nguyên không, bãi biển không biết còn được giữ nguyên không? Thật khó trả lời.

Cát thạch anh ở đây hạt to và trắng, rất phù hợp để làm các đồ pha lê cao cấp. Ven theo đồi cát là bãi biển Sơn Hào, Minh Châu - những bãi biển dài và đẹp mê hồn, nước trong, cát trắng. Tắm thoả thích rồi bạn có thể lên dạo chơi trên rừng trâm nằm sát bãi biển Minh Châu. Rừng trâm có tuổi hàng trăm năm: đây là một loại cây thân gỗ, mọc trên cát, giữ đất, chắn gió và cho bóng mát.

Sau bữa trưa, chúng tôi rời Quan Lạn đi thăm Vịnh Rồng Đôi, cách đảo Quan Lạn gần 1h tầu trung tốc. Tên vịnh do Ông Đinh Đức Hữu - Chủ tịch Công ty Công nghệ Việt Mỹ đặt dựa vào hai hòn đảo nhỏ nằm gọn trong lòng vịnh. Nhân dân địa phương gọi đây là Đầm Cái Chậu. Núi giáp với đầm được gọi là Núi Chậu.

Du khách đến tham quan vịnh được chuyển sang những chiếc thuyền nhỏ, mỗi thuyền chở được tối đa 15 khách. Thuyền bồng bềnh trên mặt nước phẳng lặng in bóng núi xanh biếc, du khách được đi vào khu vực nuôi cá, thăm rừng sú vẹt...Đến Đảo Cái Bầu lúc trời tối, chúng tôi “làm quen” với hòn đảo có vẻ trù phú này qua những món hải sản chế biến từ cá song, cá giò.

Khám phá Cái Bầu

Đảo Cái Bầu thuộc huyện đảo Vân Đồn gồm 4 xã: Đài Xuyên, Vạn Yên, Bình Dân, Đoàn Kết và thị trấn Cái Rồng. Thị trấn này nhỏ và tấp nập, cũng nằm kề núi kề biển như Cát Bà, nhưng có phần hoang sơ hơn.

Trong thị trấn có cảng Cái Rồng, cảng thương mại chính của huyện đảo Vân Đồn. Tuy không có cái vẻ duyên dáng của thị trấn Cát Bà, Cái Rồng vẫn hết sức hấp dẫn qua lời giới thiệu của hướng dẫn viên về người dân biển ăn, về món lẩu cháo với con hà tươi đẽo từ biển về bỏ vào nồi cháo trắng nóng ăn liền…

Cách khu du lịch 18 km là cảng Vạn Hoa (cũng gọi là Vạn Yên) - một cảng quân sự nước sâu được xây dựng từ thời Pháp. Trên đường đi mọi người trên xe xôn xao vì những phong cảnh rất “cá tính địa phương”: một mỏ than lộ thiên – có thể nhìn thấy những vỉa than đen nằm xen kẽ với những lớp đất nâu, một cây cầu sắt được dựng từ thời thuộc Pháp, một hàng nước đơn sơ với những món hàng cũng rất đỗi đơn sơ, những ngôi nhà nhỏ của người dân địa phương nằm trong những vườn vải, được bao quanh bởi những hàng rào nứa phủ đầy hoa dại…

Cảng Vạn Hoa có vẻ hoang sơ với phế tích của những ngôi biệt thự Pháp, của một nhà hát Opera đổ nát nằm trên một mũi đất ăn ra biển.Từ cảng Vạn Hoa nhìn xuống, biển hiện ra vừa hùng vĩ vừa bình yên.

Ở Cái Bầu, lên núi cũng thú vị mà ra biển cũng thú vị. Buổi chiều, chúng tôi rời đảo thăm Hòn Phất Cờ, một điểm tham quan khá thú vị đi cano mất khoảng 5 phút.

Đây là một khu bè nuôi cá giống và khu lồng tròn làm theo công nghệ của Na Uy nuôi cá để cung cấp cho thị trường. Du khách có thể tham quan những lồng nuôi cá giò với những con cá nặng tới 20-25kg, lồng nuôi cá song, cá hồng mỹ…và ăn trưa luôn trên nhà hàng nổi với các món hải sản tươi.

Từ Cái Bầu, đường về Hạ Long đã được rút ngắn lại. Chúng tôi về đến Hà Nội vào lúc thành phố đã lên đèn. Chưa kết thúc chuyến du lịch, tôi đã dự tính sẽ quay trở lại, một ngày nào đó, một mình hay cùng một ai đó, rón rén đi trên cát Quan Lạn vào một đêm trăng, sóng lặng để một lần nghe cát hát…

Theo Thu Giang (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
(TPO) - Trong những ngày căng thẳng giữa điểm nóng Hoàng Sa, tôi chạy như con thoi từ dưới mạn lên cabin, từ mũi ra đuôi tàu rồi ngược lại, vẫn luôn thấy thuyền viên bình thản lạ lùng. Tất cả cùng thao tác răm rắp và chuyên nghiệp. Đặc biệt, trên cabin, dáng hình thuyền trưởng Nguyễn Văn Còn B cứ sừng sững...

^ “Trâu xanh” 98003 đeo bám tàu cá Việt Nam như hình với bóng cả cuộc hải trình.

Những cú bẻ lái, vọt ga, rẽ trái, quẹo phải, tăng tốc… của các tàu trong tổ đội diễn ra như phim hành động. Và không phải ngẫu nhiên, “chiến mã” ĐNa 90039 được chọn là tổ đội trưởng tổ đội tàu cá Thanh Khê (Đà Nẵng) vươn khơi trong thời điểm này, sát cánh bên tàu ĐNa 90235 của anh Trương Văn Hay.

Chú Tám trổ tài

60 tuổi, thuyền trưởng Nguyễn Văn Còn B là “sói già” Hoàng Sa còn hiếm hoi sót lại của thế hệ thuyền trưởng vang danh đội tàu Thanh Khê oanh liệt một thời. “Thế hệ tui giờ đã nghỉ hưu, bàn giao tàu cho con cháu hết rồi” - ông bần thần trong đêm Hoàng Sa u tịch.

Như đã nói, màn bẻ lái nhanh như điện xẹt của Lê Dũng, thuyền trưởng ĐNa 90098 vào trưa 14/5, thoát khỏi cú chồm húc hung hãn của “trâu xanh” vẫn bị ông cậu Còn B quát mắng ầm ĩ qua Icom. Rồi những ngày sau đó, những mệnh lệnh chỉ đạo chính xác của ông giúp biên đội đứng vững trước vòng vây ngày càng quây chặt của tàu cá Trung Quốc.

“Nạt những Chiến, Dũng, Thương… không phải chuyện đùa. Toàn mấy tay thiện nghệ, nói lơ mơ chúng nó chửi ngay, chả kiêng nể gì đâu. Chuyện nghề ấy. Ngoài đời thì chú cháu, trên dưới rõ ràng, nhưng bước vào những cuộc như thế này, phải ngon thì mới nói được chúng nó” – ông chắc nịch.

Những cú tăng tốc ngoạn mục của thuyền trưởng Còn B ngày 13 và 14/5 chưa phải là tuyệt kỹ đỉnh cao, mà màn cắt đuôi, tăng tốc và làm tàu cá Trung Quốc lỡ trớn ngày 15/5 mới phô diễn hết tài nghệ, sự quyết đoán sắc lạnh của ông. Khi ấy khoảng 19 giờ tối, anh em trên tàu nghỉ tạm sau cả ngày bị quần thảo mệt mỏi.

Tàu đang cách giàn khoan Hải Dương 981 chừng 5 hải lý, “trâu đen”, “trâu xanh” Trung Quốc vẫn quây bịt bùng. Thoáng thấy biên đội tàu Thanh Khê nhúc nhích, hàng loạt tàu cá Trung Quốc lại khởi động lao tới, vẫn chiến thuật là áp sát, không ngại đâm, húc, va và cài bẫy tạo tình huống.

Vẫn là “trâu xanh” 98003, dường như đã được phân định kèm riết tàu ĐNa 90039 lần này ép ngay bên mạn rồi bất ngờ hú còi tu tu, khuấy động cả một vùng biển. Bên mạn kia là một tàu khác, trước mũi là hai tàu sắt màu ghi. Cài số lùi? Tiến sát vào giàn khoan để lọt hẳn vào trận địa mai phục và chưa biết lúc nào sẽ thoát ra, cùng với đó sẽ là quãng thời gian cực kỳ nguy hiểm cho toàn bộ anh em cũng như sinh mạng cả con tàu.

Ông Còn B cài số lùi thật. ĐNa 90039 rì rì giật lùi, gần như lọt hẳn vào trận địa hơn 5 tàu sắt Trung Quốc đang đón lõng. Ánh đèn pha sáng rực cả một vùng, nhoay nhoáy rọi vào tâm điểm là tàu chúng tôi. Đặc biệt trên cabin, giờ rõ như ban ngày.

Tất cả nín thở. 5, 10 rồi 15 phút. Tôi như bất động nhìn ông Còn B, lúc này cũng không chớp mắt. “Chú Tám. Vọt”! – Tiếng thét đanh gọn từ phía đuôi tàu. Đang cài số lùi, rê bánh lái. Ông Còn B ngồi bật dậy. Sang số, nhấn ga, bẻ lái, ba thao tác đó được ông làm trong chớp mắt. Con “chiến mã” ĐNa 90039 vọt lên, lách vào kẽ hở giữa “trâu xanh” và một tàu màu ghi khác nhỏ hơn.

< Chú Tám - thuyền trưởng Nguyễn Văn Còn B - người thủ lĩnh dạn dày giữa điểm nóng Hoàng Sa.

“Trâu xanh” lỡ trớn lao theo không kịp, suýt nữa va vào tàu sắt màu ghi ngay đầu mũi. Tiếng hò reo vang dậy cả góc biển. Trên Icom ồn ào lời chúc mừng từ các đồng đội. Có thể nói, đó là pha xử lý đỉnh cao nhất của người thuyền trưởng già.

“Thấy chú Tám xử lý chưa? Mình không quyết đoán quả đó, nó đã tạo được một tình huống bẫy tàu mình chủ động đâm tàu cá Trung Quốc. Tàu họ lớn, chỉ cần một cú húc nặng bên mạn thôi, ta chìm là cái chắc. Anh em chú không lo vì họ bơi trên biển còn giỏi hơn chạy bộ. Nhưng…” - ông dừng lời nhìn qua tôi. Thời gian như đứng lại. “Chú Tám” là tên gọi thân thương và kính trọng của thuyền viên đối với vị chỉ huy Nguyễn Văn Còn B.

Trắng đêm đó, cùng trực canh cabin với ông, những thời khắc hiếm hoi được ngồi bên ông trò chuyện, mới thấu hiểu được góc khuất đằng sau dáng vẻ oai nghiêm thủ lĩnh, mệnh lệnh như sơn của ông. Học hết lớp 5, đến giờ chữ đã bay theo thời gian. 17 tuổi đã lên tàu, 20 tuổi làm thuyền trưởng đến tận hôm nay. Không biết chữ, nhưng kho kinh nghiệm, thần thái ứng xử, cốt cách quân tử của ông là cả một câu chuyện cực kỳ hấp dẫn.
“Ronaldo” của biển

Không có nhiều những giây phút nghỉ ngơi giữa biển trong chuyến hải trình khổ ải ra Hoàng Sa giữa “tọa độ nóng” lúc này. Toàn tàu thức dậy từ 4h30 sáng và kết thúc công việc lúc 10h đêm. Một số được ngủ, số còn lại phải trực canh. Mặc dù vậy, có một người không cần phải làm việc nhiều, được đặc quyền nghỉ ngơi, không tham gia việc vặt. Đó là ngư phủ Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1968.

“Tui không chức, không danh thuyền trưởng hay máy trưởng, nhưng vắng tui là khó làm ăn” - ngư dân 46 tuổi ấy tự tin nói sau một cú bẻ lái thành thạo thoát hiểm khỏi vòng vây tàu Trung Quốc.

Từng là lính đặc công, giải ngũ trở về làng chài Thanh Khê, anh Thành đầu quân vào đội ngư phủ xa bờ. Người thấp đậm vạm vỡ, nụ cười hiền, nước da đồng hun sóng sánh giữa nước biển Hoàng Sa, anh Thành được mệnh danh là “rái cá”, là một trong những thợ lặn lành nghề bậc nhất ở Đà Nẵng.

Chiều ấy, sau cú thoát vòng vây, anh Thành nhảy ùm xuống biển như chứng minh những lời nhận xét của đồng nghiệp là không ngoa chút nào. Cú lặn sâu biểu diễn ém hơi mấy phút giữa Hoàng Sa có độ sâu gần 2 ngàn mét. “Chưa ăn nhằm gì đâu” – ngư dân trẻ Nguyễn Ngọc Trọng thốt lên thán phục.

Anh Thành kể, kinh nghiệm để đời từ mấy năm làm lính đặc công giúp anh có kỹ thuật lặn ém hơi, không cần bình thở cả mấy phút, xuống độ sâu vài chục mét. Nhưng đó chưa phải là biệt tài duy nhất để hiện nay, anh đang là “ngôi sao” được các tàu cá Đà Nẵng mời về.

Anh thổ lộ, mấy năm gần đây, ngoài mức thu nhập bắt buộc phải có mỗi lần ra khơi, nếu tàu nào muốn “sở hữu” Thành, phải có phí lót tay. Mức giá ban đầu một tàu đưa ra là 30 triệu, đến nay đã đội lên 70–80 triệu, mức giá cao nhất hiện nay. Tuy nhiên, là cháu kêu ông Còn B bằng cậu, anh Thành vẫn ở lại với “chiến mã” ĐNa 90039. “Quen rồi, đói no cùng hưởng”.

< Ngư phủ Nguyễn Văn Thành được mệnh danh là “Ronaldo của biển” với phí chuyển nhượng cao nhất.

Biệt tài của anh Thành đó là sự đa năng, anh có thể lặn, làm tài công, máy trưởng, kéo dù, nấu ăn… tất tật công việc được anh làm vô cùng chuyên nghiệp. Và điểm quan trọng nhất, anh là người có đôi mắt tinh tường, giác quan biển cả nhạy bén. Gặp luồng cá, anh nói: Chỗ này cỡ 10 tấn. Khi thả lưới, kéo lên sai số chỉ vài tạ. Đây là điểm mấu chốt khiến “phí chuyển nhượng” của ngư phủ Nguyễn Văn Thành tăng vù vù.

“Có Thành, tiết kiệm được rất nhiều công sức. Gặp luồng cá vài tạ mà cũng quăng lưới thì coi như đứt. Kéo lên kéo xuống tay lưới ngàn cân cũng mất vài ngày” - thuyền trưởng Còn B nói. “Không chi khó cả, nhìn qua, tui lặn xuống, quan sát được và đánh giá. Lặn xong, tui bảo anh em.

Đó, thả lưới đi, tui… nghỉ” – anh cười sảng khoái, rũ tong tong những giọt nước biển khỏi khuôn mặt rám nắng. Không dễ để ai cũng được như anh Thành. Cũng chính trên tàu ông Còn B mấy năm trước, ngư phủ tên Sơn chết bất đắc kỳ tử ngoài Hoàng Sa. Y học bó tay, người nói đột quỵ, kẻ bảo ruột thừa.

Nhưng sự thật, Sơn chết vì ngạt nước khi lặn quá sâu, kỹ thuật ém hơi không đúng. Mới đây, cũng một thợ lặn khác giờ phải ngồi xe lăn, bán thân bất toại vì áp suất nước sâu làm teo hết chân tay. “Xuống độ sâu vài chục mét, sống chết chỉ trong gang tấc” – ngư phủ Thành tâm sự.

Máy trưởng Nguyễn Văn Trường, nói ngắn gọn: Ra Hoàng Sa thời điểm này, giữa vòng vây nguy biến, không có những “ngư dân siêu phàm” như chú Tám, như Thành, Tiến…, bọn tui khó mà yên tâm!

Khi độc giả đọc những bài này, ngoài kia, biên đội tàu cá Đà Nẵng, Quảng Nam… vẫn đang kiên cường bám trụ ngư trường quanh khu vực giàn khoan. Và nữa, hàng ngàn tàu cá đã, đang và sẽ Hoàng Sa thẳng tiến, không quản ngại hiểm nguy. Họ gửi gắm điều gì cho triệu triệu con tim Việt? Mời bạn đọc xem kỳ cuối: “Những cột mốc can trường giữa trùng khơi”.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4
Theo Nam Cường (báo Tiền Phong)
Du lịch, GO!

Wednesday, 21 May 2014

(TPO) - “Bẻ lái, bẻ lái ngay Dũng ơi, mi làm chi chậm rứa mi, bọn tao bọc hậu cho mi rồi. Nó áp ngay phía sau kìa…” - tiếng ông cậu, thuyền trưởng Nguyễn Văn Còn B quát lạc cả giọng qua Icom với người cháu Lê Dũng.
Tình huống đó, Lê Dũng, tay thiện chiến của tàu ĐNa 90098 đã xử lý còn nhanh hơn điện, vẫn bị ông cậu nhăn mặt chê… Những ngày thực sự căng thẳng của chuyến ra khơi Hoàng Sa bắt đầu như thế.

Nhật ký một ngày ở Hoàng Sa

Sau ngày đối mặt đầu tiên, anh em thuyền viên bình thản, tôi thì mệt nhoài. Tôi hỏi anh Trương Văn Hay, người sở hữu tàu cá được cho là khủng ĐNa 90235 trước ngày lên đường: “Chúng ta có thể đi chuyến biển này bao lâu?

Anh lắc đầu: bình thường, 15 đến 20 ngày, nhưng bây giờ, đây là chuyến biển thể hiện sự quyết tâm của bà con, thể hiện ý chí vươn khơi của ngư dân mình nên chưa thể nào biết được!”. Tôi cảm thấy may mắn vì đã có mặt trên chuyến ra khơi đánh bắt đợt này, lại ngay giữa tọa độ “nóng”.

4h30 sáng, cả tàu thức giấc. Giữa Hoàng Sa đã rõ mặt người. Cà phê, trà đặc, thuốc lá…, tiếng gọi nhau râm ran. Tôi phóng lên cabin, máy trưởng Nguyễn Văn Trường đang ngồi trầm tư bên ly cà phê đen sánh. Anh và thuyền trưởng Còn B cả đêm không ngủ vì lãnh ca trực cho đêm đầu tiên.

“Tui mà ngủ thì coi như toi” - anh Trường cười, giòn tan trong làn gió sớm. Ông Còn B lý giải, chiều hôm qua (tức 13/5 - PV), khi chúng ta vừa thoát khỏi vòng kiềm tỏa của tàu Trung Quốc, phải nổ máy chạy tới hơn 3 hải lý, đến vùng an toàn thả dù neo đậu. Thả dù là một trong những dụng cụ phổ biến của ngư dân khi tàu “nghỉ ngơi”.

Mặc dù vậy, với sóng cấp 4 - 5 ở Hoàng Sa hiện nay, chỉ sau một đêm, tàu trôi tự do 4 - 5 hải lý là chuyện thường. “Nếu không có dù, tàu bị sóng lắc mạnh, chao nghiêng từ bên này sang bên kia, đến nằm còn không vững chứ nói chi chuyện đứng yên”. Vì thế, ông Còn B. và anh Trường phải thức trắng đêm, làm hết 4 cốc cà phê.

“Ba giờ sáng, tàu trôi sát đến trận địa tàu cá, hải giám của Trung Quốc, lại phải nổ máy chạy ra xa” - ông Còn B kể. Quả thật, 3 giờ sáng, khi cả tàu đang thiu thiu ngủ, tiếng ông Còn B vẫn sang sảng: “Kéo dù, kéo dù !”. Mấy thuyền viên bật dậy nhanh như chớp. Tôi cảm tưởng, lời ông Còn B như một cái công tắc điện, chỉ cần bật lên là mọi người cứ thế mà răm rắp, dẫu nửa đêm hay trưa nắng.

Với ngư phủ Hoàng Sa, có lẽ không tồn tại khái niệm ngày và đêm. 7 giờ, bữa sáng trên tàu là cơm nóng, cá khô và thịt kho, không canh. Cay và mặn như đời ngư phủ. 8 giờ, không khí làm việc bắt đầu khẩn trương, rầm rập. Người thu dọn, kẻ kéo dù…, một buổi đánh bắt lại bắt đầu.

Trưa, không kịp ăn cơm, ai đói có mỳ tôm ăn tạm. Tối, lại đưa tàu đến nơi an toàn. Gần 10 ngày trên tàu, tôi chứng kiến, mặc dù luồng cá qua lại rất nhiều, nhưng không có cơ hội cho ngư dân thả lưới. Đơn giản, chỉ thấy ngư dân ta chuẩn bị ngư cụ là tàu Trung Quốc lại bắt đầu áp sát.

Truy đuổi, đâm, húc, va…


< Khoảnh khắc tàu ĐNa 90406 bị đâm, một tích tắc hiếm hoi PV Tiền Phong ghi lại được.

Bữa sáng chưa dứt với tôi, tàu ĐNa 90039 dẫn đầu 5 chiếc đã chủ động tiến thẳng vào dàn khoan Hải Dương 981. Khoảng cách dần thu hẹp, 10, rồi 7, 6 và 5. Máy đo tọa độ chỉ còn hơn 5 hải lý so với giàn khoan, cuộc truy ráp bắt đầu. Lần này, hai chiếc tàu hải cảnh của Trung Quốc đồ sộ không còn chủ động như hôm qua.

Thay vào đó, đội tàu cá vỏ sắt của Trung Quốc tăng tốc, trong thoáng chốc đã vây chặt đội ngư dân Đà Nẵng vào giữa. Vẫn như hôm qua, cứ 3 - 4 tàu sắt vây một tàu ngư dân. Tuy nhiên, có vẻ như “chiến thuật” của họ đã thay đổi.

Nhận thấy tàu ĐNa 90039 có vẻ như là tàu của tổ đội trưởng, 2 chiếc tàu sắt màu ghi áp gần sát, còn chiếc tàu sắt khủng khác chủ động đâm phía sau. Bốn chiếc tàu cá còn lại của ngư dân, của anh Chiến, Dũng, Dàng, Thương bị quây rất chặt, không cách nào tiếp tế, chia cắt hoặc đánh lái tạo kẽ hở cho ĐNa 90039 thoát ra.

Tuy nhiên, quần đảo, căng thẳng đến 10 giờ, chiếc tàu sắt đầu đen thân xanh 98003 của Trung Quốc vẫn không thể nào áp sát được ĐNa 90039 trước sự bình tĩnh và khả năng phán đoán tuyệt vời của thuyền trưởng Còn B. Có những lúc, cảm tưởng như mũi tàu sắt 98003 chỉ còn cách đuôi vài mét, nhưng lúc đó, ông Còn B lại tăng tốc. Phải vừa vọt nhanh, nhưng tốc độ không quá lớn để tránh va chạm với 2 tàu sắt màu ghi đang ép hai bên và một chiếc đối đầu phía trước.

“Nếu mình va chạm như thế, ngay lập tức máy quay trên tàu sắt của họ sẽ ghi lại và sau đó lu loa lên rằng, ngư dân Việt Nam chủ động gây hấn, thâm hiểm là vậy đó. Tụi tui không ngu chi mắc mưu đâu” - ông Còn B vừa bẻ lái, vừa trò chuyện.

Lúc này, tàu ĐNa 90098 của anh Lê Dũng ở vào thế nguy hiểm nhất khi đã bị quây vào giữa sau một cuộc rượt đuổi mà các tàu cá Trung Quốc thể hiện sự hung hăng nhất. 10h15 phút, chiếc “trâu xanh” (cách gọi của ngư dân dành cho các tàu cá, hải giám Trung Quốc, màu xanh là “trâu xanh”, đỏ là “trâu đỏ”, đen là “trâu đen”…) biển hiệu 98006 mở tốc lực, bọt trắng tung tóe, hung hãn chồm lên phần đuôi tàu anh Lê Dũng.

Tất cả nín thở, bàng hoàng. Ông Còn B có một quyết định tuyệt vời, tăng tốc, mở hai máy, lách ngay vào giữa hai tàu sắt màu ghi khiến tàu sắt 98003 phía sau không kịp trở tay. Tàu ĐNa 90039 mở tốc chạy sát tàu anh Lê Dũng để hỗ trợ.

Sau cú chồm hụt, “trâu xanh” 98006 trở nên hung hãn hơn, giảm ga lấy đà cho một cú chồm thứ hai. “Bẻ lái, bẻ lái ngay Dũng ơi, vọt lên rồi bẻ lái. Làm chi chậm kinh rứa mi. Bọn tao bọc hậu, hỗ trợ đây” - ông Còn B quát lạc cả giọng qua Icom. Cách chưa đầy 200m, tôi nhận thấy qua ống kính, cú tăng tốc loại bỏ sự truy sát của “trâu xanh” mà anh Dũng thể hiện có thể nói còn nhanh hơn cả điện. Thế mà vẫn bị ông Còn B chê. Chắc hẳn, ông cậu muốn cháu mình phải nhanh hơn nữa. Tất cả diễn ra phải từng phần giây.

Chiều tối, qua Icom, thuyền trưởng tàu ĐNa 90406 Nguyễn Đình Sinh thông báo: Đã gặp sự cố, ngay trong vùng biển nóng, khi các đội tàu khác đang bị quây và hút hết cả lực lượng vào đội ĐNa 90039, tàu anh bị chiếc “trâu đen” 71075 đâm gãy cọc, vỡ cabin và giàn đèn 6 chiếc bóng. Cú “đâm lén” nhanh trong tích tắc.


< Tàu cá Việt Nam bị vòi rồng của tàu Trung Quốc tấn công.

Cùng lúc, anh Trương Văn Hay phát tín hiệu: “Trâu đen” ngay sau đó tiếp tục làm tàu anh vỡ toác phần mạn trước và sập dàn sau. Tuy nhiên, anh em thuyền viên đã bình tĩnh lắc ra và khắc phục được. Cũng qua Icom, anh Nguyễn Đình Sinh, thuyền trưởng ĐNa 90406 cho biết thêm, “trâu đen” 71075 trước khi điên cuồng đâm vào 90508 và 90406 đã “vồ hụt” tàu anh nên rất tức tối.

“Quá thâm hiểm, họ dàn cảnh, cố tình ép sát đội ĐNa 90039 để các tàu khác tìm đường hỗ trợ, không ngờ con “trâu sắt” 71075, chiếc tàu cá được tạo răng cưa phần mạn, lắp mũ sắt nhọn như lưỡi lê đằng mũi, chuyên đâm va đã lén lút đâm tàu cá đội khác. Chúng ta phải cảnh giác hơn” - ông Còn B nhận định.

Trực tiếp chứng kiến, cả hải trình mấy ngày trên biển, không lúc nào các tàu cá của ta được yên tâm thả lưới đánh mắt mà luôn đối phó với sự truy đuổi, cản phá quyết liệt của Trung Quốc. Những ngày sau đó, vô vàn tình huống hiểm nguy, nhưng bằng sự chính xác, nhanh nhẹn và bình tĩnh, các tàu ngư dân ta vẫn an toàn…

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4
Theo Nam Cường (báo Tiền Phong)
Du lịch, GO!
(TPO) - Gần 10 ngày qua, PV Tiền Phong theo tàu cá ngư dân Đà Nẵng đánh bắt ở vùng biển “nóng” Hoàng Sa. Trải qua những đêm ngày lênh đênh cực khổ cùng bà con, được trực tiếp và tham dự bao hiểm nguy, cùng sự gây hấn.

Thế nhưng lòng quả cảm can trường, sự thông minh mưu trí và nhanh nhẹn của ngư dân miền Trung đã vượt qua tất cả.

“Đi Hoàng Sa” - anh Lê Văn Chiến - thuyền trưởng tàu ĐNa 90351 đáp ngắn gọn sau nhiều tin nhắn hỏi han tình hình ra khơi của tôi. Mặc cho biển Đông đang sục sôi như “thùng nhựa đường” nóng bỏng, các biên đội tàu cá Đà Nẵng và Quảng Nam vẫn mạnh mẽ vươn khơi, quyết ra đúng cái tọa độ mà giàn khoan Hải Dương 981 vừa hạ đặt trái phép.

Xuất hành

Bữa ăn sáng bất thường của anh em thuyền viên tàu cá ĐNa 90039 của thuyền trưởng kiêm chủ tàu Nguyễn Văn Còn B (phường Xuân Hà, Thanh Khê - Đà Nẵng) diễn ra lúc 3h sáng ngày 12/5. Sau hơn 2 tuần nằm bờ, hàng chục tàu cá Đà Nẵng quyết xuất hành ra Hoàng Sa.

“Lần này, chúng tôi sẽ quyết tâm thả lưới đánh bắt ở vùng biển có giàn khoan trái phép của Trung Quốc, xem họ làm được gì. Đó là đường ra khơi, vừa là ngư trường của ngư dân, nếu mất, có lẽ từ nay chúng tôi mất hẳn ngư trường Hoàng Sa. Chú chuẩn bị tinh thần gian khổ đi. Sẽ là một ngư dân thực thụ đấy” - ông Còn B quả quyết.

< Thuyền trưởng Nguyễn Văn Còn B cầu bình yên trước khi xuất hành.

Tôi bước lên tàu, là thuyền viên thứ 13 của ĐNa 90039, con “chiến mã” 800 sức ngựa, là niềm tự hào của đại gia đình ông Còn B cũng như của ngư dân Thanh Khê. Đã nhiều lần lênh đênh trên biển, không ít phen xuống tàu cùng ngư dân, nhưng chuyến đi lần này vô cùng đặc biệt. Một chuyến ra khơi đánh bắt hải sản đúng nghĩa, nhưng trực chỉ vùng biển mà cả thế giới đang dõi theo.

“Bình thường, chúng tôi không chọn vùng biển này, bởi nói gần cũng chưa hẳn nhưng bảo quá xa thì không đúng. Đội tàu xa bờ của ngư dân miền Trung khi đánh bắt ở ngư trường Hoàng Sa, luôn đến nơi xa nhất. Ở đó, lượng hải sản dồi dào, đồng thời cũng là một cách để ngư dân xác lập, gìn giữ chủ quyền cương thổ” - thuyền trưởng Còn B tâm sự.

Cửa biển Sơn Trà lùi xa dần trong sương sớm, bó hương trong tay ông Còn B cháy rực. Ánh mắt ông xa xăm nhìn ra biển lớn, chuyến đánh bắt lần này, có lẽ mang lại cho ông nhiều xúc cảm hơn thường lệ. “Thường ngày cầu an toàn, may mắn, cầu được nhiều luồng cá. Nay cầu thêm sự bình yên từ biển cả, cầu bình yên từ vùng biển mà vốn dĩ lâu nay là chốn ra vào của bà con” – thuyền trưởng Còn B trầm tư.


< Hoàng Sa thẳng tiến.

Tàu ĐNa 90235 của anh Trương Văn Hay dẫn đầu, theo sau, hàng chục tàu cá Đà Nẵng, Quảng Nam rẽ sóng tiến ra khơi. Tàu ĐNa 90039 đi thứ 2, máy trưởng Nguyễn Văn Trường quyết định mở cả hai máy, mã lực 800CV tốc độ hơn 10 hải lý/giờ. Bọt sóng trắng xóa bắn tung tóe, tiếng máy gầm vang xé toang không gian yên tĩnh. Bình minh ló dạng từ phía Đông. Hải trình gần 10 ngày đêm làm ngư dân ở “tọa độ nóng” của tôi bắt đầu…

Cuộc rượt đuổi đầu tiên

Mất gần 1 ngày 1 đêm cho hải trình hơn 180 hải lý, đến tận chiều ngày 13/5, chúng tôi có mặt ở vùng biển Hoàng Sa. Tàu tạm ngưng, thả trôi cách giàn khoan Hải Dương 981 phi pháp của Trung Quốc khoảng 7 hải lý.

Chiếc giàn khoan ngang ngược mờ xa khi nhìn bằng mắt thường nhưng rõ mồn một qua ống kính. Hai giờ chiều, xung quanh giàn khoan là hơn trăm tàu cá vỏ sắt, tàu hải giám, hải cảnh, ngư chính và cả tàu chiến Trung Quốc ken đặc. Mỗi chiếc đậu cách nhau khoảng nửa hải lý, hướng mũi tàu ra phía ngoài.

Gió thổi mạnh, sóng cấp 4 - 5 bắt đầu nổi lên, tàu tròng trành. Thả trôi không dòm dù (dụng cụ ngư dân dùng để neo tàu khi sóng lớn - PV), nên ĐNa 90039 chỉ sau chưa đầy một bữa cơm chiều của anh em trên tàu đã lạc vào “ma trận” của đội tàu Trung Quốc. Nhiều tiếng còi dài bắt đầu hú lên, xé toang mặt nước, xé toang không gian yên tĩnh chiều Hoàng Sa.

Một chiếc tàu hải cảnh đồ sộ đang chếch mũi về hướng khác, bỗng quay ngoắt 180 độ, lừ lừ rẽ sóng hướng tới. Cách khoảng 5 hải lý, tàu này hú còi ầm ỹ, bắt đầu biểu diễn phun nước tứ phía. Từng cột nước trắng xóa bắn ra, thông điệp đe dọa. Các ngư phủ trên tàu vẫn bình thản. “Diễn thôi, đừng sợ !” - thuyền trưởng Còn B nói.

Lúc này, mấy tàu cá khác của Đà Nẵng cũng bắt đầu triển khai đánh bắt xung quanh khu vực này. Icom trên các tàu nóng ran các cuộc thoại. “Đã chấp nhận đánh bắt trong thời điểm này, ngay khu vực này là phải đi theo biên đội, phối hợp nhịp nhàng, đói no cùng chịu. Nếu chỉ cần tàu nào xé lẻ, ngay lập tức sẽ bị tàu sắt ngư dân hoặc hải cảnh uy hiếp” - máy trưởng Nguyễn Văn Trường nói.

Biên đội 5 chiếc do tàu chúng tôi, ĐNa 90039 dẫn đầu bắt đầu chia đội hình, chọn vị trí để thả lưới. “Toàn tổ chú ý, nhiều tàu phía Trung Quốc bắt đầu triển khai uy hiếp chúng ta. Tất cả bình tĩnh né tránh chủ động. Không khiêu khích” – tiếng “anh hùng Hoàng Sa” Lê Văn Chiến (thuyền trưởng ĐNa 90351) đanh thép qua Icom.

Lúc này, khoảng cách giữa tàu ĐNa 90039 với giàn khoan chỉ còn chưa đầy 6 hải lý. Bất ngờ, hàng chục tàu cá vỏ sắt phía Trung Quốc ùa ra. Cuộc đối mặt, rượt đuổi gay cấn đầu tiên diễn ra ngay trong ngày thứ nhất ở biển. Không thể nào đếm xuể tàu cá Trung Quốc, được bọc lót phía sau là hàng chục tàu hải giám, hải cảnh và cả tàu chiến.


< Áp sát.

Một chiếc tàu cá Trung Quốc màu xanh, đồ sộ, biển hiệu 98001 lao thẳng tới tàu ĐNa 90039 với tốc độ lớn, khi khoảng cách còn rất gần, tàu này bắt đầu hãm tốc. Đồng thời, 2 chiếc tàu cá Trung Quốc khác, thân màu ghi cũng đã kẹp ngay bên hông, chặn đường né tránh. “Bình thường, chưa bao giờ thấy tàu cá Trung Quốc lớn như thế này, đặc biệt là chiếc màu xanh” – ông Còn B nhận định.

Tôi lên nắp cabin quan sát. Lúc này, toàn bộ tổ đội 5 chiếc của Đà Nẵng đã bị quây rất chặt. Cứ 3 - 4 chiếc tàu sắt của Trung Quốc áp sát một chiếc tàu cá Việt Nam. Một chiếc trước mũi chặn đường tiến, hai chiếc bên hông không cho đường thoát. Tình hình căng hơn dây đàn. Tất cả đều phụ thuộc vào mọi quyết định của thuyền trưởng Nguyễn Văn Còn B. Ông là thuyền trưởng của tàu tổ đội trưởng, sát cánh ngay bên là tàu anh Lê Văn Chiến, tổ đội phó. Phía bên phải là tàu ĐNa 90098 của Lê Dũng.

“Tui tin tưởng nhất hai cha này. Gan lỳ và dũng cảm nhưng cũng rất khôn khéo”. Thế cuộc vờn nhau trên biển diễn ra gần 1 tiếng đồng hồ. Lúc này, thuyền trưởng Còn B quyết định cho tàu lách ra. Một pha đánh lái điệu nghệ cùng với màn phối hợp ăn ý giữa hai cậu cháu Nguyễn Văn Còn B – Lê Dũng đã tạo khoảng trống tuyệt vời cho tàu anh Lê Văn Chiến lách ra.

Ngay sau đó, tàu anh Dũng cũng cắt đuôi 2 tàu sắt, tạo thêm khoảng trống cho 2 tàu khác trong tổ đội song song rời vị trí. Đi cuối cùng là tàu ĐNa 90039. Các tàu cá Trung Quốc rượt đuổi thêm vài hải lý trước khi giảm tốc và dừng cuộc áp sát đầu tiên. Lúc này đã là 17 giờ chiều ngày 13/5. Các tàu cá bắt đầu bung dù thả trôi, kết thúc ngày ra khơi đầu tiên đầy gian nan, thử thách.

Đêm Hoàng Sa ập xuống nhanh, ngày 13/5 đúng vào ngày rằm tháng 4 (tức 15/4 âm lịch). Ánh trăng chiếu rọi xuống đại dương sâu thẳm một vệt sáng long lanh. Đằng xa, đèn trên hàng trăm chiếc tàu sáng bừng cả một vùng biển. Giàn khoan 981 nhấp nháy trong đêm. Nếu là một bức tranh của hòa bình, hữu hảo thì nó thật lộng lẫy và lãng mạn.

Nhưng sự thật, sự hiện diện phi pháp của giàn khoan khổng lồ ấy đang khiến người dân Việt Nam và người dân nhiều nơi trên thế giới bất bình, giận dữ, tạo ra điểm nóng nguy hiểm giữa biển Đông cho cả các nước trong khu vực và thế giới. Tôi không thể ngờ được, ngày mai thôi, khi ánh mặt trời chói chang giữa trùng khơi, sự khốc liệt mới bắt đầu…

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4
Theo Nam Cường (báo Tiền Phong)
Du lịch, GO!

Lịch sử đăng bài

Powered by Blogger.

Bài đăng mới

Thích thì click!^^

Bải đăng phổ biến