Showing posts with label Di tích lịch sử. Show all posts
Showing posts with label Di tích lịch sử. Show all posts

Tuesday, 13 May 2014

Di tích Trà Kiệu ở làng Trà Kiệu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 45 km về phía tây nam, di tích nằm trên một dải đồng bằng, là cửa của một thung lũng rộng hình tam giác, các ngọn núi: Chóp Xôi, Núi Chúa, Núi Ðất... nối liền nhau tạo nên hai bức tường thành tự nhiên bảo vệ hai cạnh phía tây bắc và tây nam của thung lũng.

Trà Kiệu được coi là kinh đô Sinhapura hay “Kinh thành Sư Tử” của Vương quốc Champa từ khoảng thế kỉ 6 đến thế kỉ 7. Simhapura là kinh đô của tiểu quốc Avamarati một trong 5 tiểu quốc của vương quốc Champa. Theo văn bia cho biết, người đặt đô đầu tiên ở đây là vua thứ 9 Vikrantavacman II vào khoảng 686 – 731, thuộc dòng Gangaraja trị vì từ thế kỷ 3 đến giữa thế kỷ 8.

Sau chính biến năm 1470 giữa vương quốc Champa và Đại Việt, vua Lê Thánh Tông đã đặt mốc biên giới tại Thạch Bi sơn, và cùng với đó là làn sóng di cư của những người Việt vào Nam theo đà nam tiến. Vào năm 1623, Trà Kiệu đã được một số người tình nguyện di dân ở các vùng chung quanh chọn để tới khai hoang lập ấp.

 Theo nhiều nhà nghiên cứu thì tên Trà Kiệu được xuất phát từ cách gọi Chùm Chà chỉ những người Chiêm Thành. Chữ Chà phía sau đọc trại thành Trà còn chữ Kiệu có thể hiểu rằng người ở nơi xa đến, ý chỉ những người đàng Ngoài vào lập nghiệp tại vùng đất này.

Vào năm 1927-1928, dưới sự chỉ đạo của J.Y.Claeys, Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã tiến hành cuộc khai quật ở Trà Kiệu. Theo miêu tả của Claeys, chu vi của toà thành vào khoảng 4000m. Ông còn tìm thấy một dãy những bức tường gạch được gọi là hoàng thành. Ông còn tìm thấy nhiều đền, tháp, các tác phẩm điêu khắc, văn bia có giá trị lớn ở 2 ngôi làng: Chiêm Sơn Đông và Chiêm Sơn Tây nằm kế cận kinh thành Trà Kiệu xưa.

Sau cuộc khai quật một phần kinh đô cổ Trà Kiệu của Claeys vào các năm 1927 – 1928, nhưng tầng văn hóa dưới lòng đất Trà Kiệu lại ngủ yên suốt hơn nửa thế kỷ. Từ thập niên 90 đến nay những nhát cuốc của các nhà khảo cổ đã rộn ràng đánh thức những di chỉ văn hóa ẩn chìm dưới lòng đất. Ngoài các di chỉ văn hóa Chăm, vùng đế đô xưa một thời vang bóng này còn chứa các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh đầy lôi cuốn với những ai muốn soi rọi lại một phần quá khứ của hàng nghìn năm trước.

Vào những năm 1980, có nhiều những hiện vật nhỏ làm bằng vàng đã được khai quật. Chúng là những trang sức có hình mặt trăng, mặt trời, các vì sao, còn có cả những bức tượng thần rỗng ruột, tượng động vật và những cuốn sách thánh dày tạo bởi vàng lá dày 1cm khắc chữ Phạn và những miếng vàng hình tròn với những mẫu tự tiếng Ả Rập. Tổng sô vàng được tìm thấy lên đến vài ký. Điều này cho thấy sự giàu có, trù phú của thành Sinhapura trong thời kì phát triển thịnh vượng nhất từ thế kỉ thứ 4 đến thế kỷ thứ 10.

Kinh đô Trà Kiệu là một tổng thể không thể thiếu được trong nền văn minh , văn hóa Á Đông nhất là văn minh Champa là : Kinh đô – Lăng Miếu , Thánh địa , Đền đài để thờ cúng các tiên vương, chư thần…Theo nghiên cứu của GS.TS Trần Quốc Tý, nếu du khách nhìn từ Cù Lao Chàm- nhà thờ Trà Kiệu – và thánh địa Mỹ Sơn là nằm trên một đường thẳng theo đường chim bay. Đây là một phát hiện vô cùng lý thú.

Cho đến nay, giới khảo cổ và sử học đã tìm thấy nhiều di tích đền, tượng, bệ thờ, tường thành, đồ gốm, bia kí và nhiều bức phù điêu tại Trà Kiệu, trong đó nổi tiếng nhất là bức chạm “Vũ nữ Trà Kiệu”. Tất cả những hiện vật này  một phần được mang về Bảo tàng điêu khắc Chăm tại Đà Nẵng, số còn lại du khách có thể chiêm ngưỡng tại một cửa hàng đồ lưu niệm đặt trong khuôn viên Nhà thờ Trà Kiệu như  ghi nhận những phồn thịnh và lưu giữ những hình ảnh đẹp kì lạ về dấu tích điêu khắc Chăm một thời tại Trà Kiệu.

Ngày nay tại Trà Kiệu, một nhà thờ thiên chúa giáo đã được xây dựng trên ngọn đồi Bửu Châu. Nó được xây dựng trên nền của một tháp Chăm. Đứng ở đây chúng ta sẽ có được một cái nhìn toàn cảnh thung lũng Trà Kiệu với những cánh đồng màu mỡ và một bức tường thành dài hơn 1000 m, một di tích bên trong cung điện đã được miêu tả như trong Thủy Kinh Chú của Trung Quốc.

Từ đỉnh đồi chúng ta có thể thấy đỉnh núi Mỹ Sơn ở phía Tây  và Cù Lao Chàm về phía Đông . Từ đây chúng còn thấy được địa hình thuận lợi và những phong cảnh đẹp mà người Chăm đã chọn để xây dựng thủ đô của mình.

Trà Kiệu ngày nay lại được chọn là Trung Tâm Thánh Mẫu. Hằng năm, cứ vào ngày 31 tháng năm, lại có hàng vạn người, cả lương lẫn giáo, từ các tỉnh miền Trung tấp nập kéo nhau về đây cầu nguyện và xin ơn Đức Mẹ.

Xem thêm:
- Nhà thờ Núi Trà Kiệu nằm bên bờ sông Thu Bồn, cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 45km về phía tây nam, cách thị trấn Nam Phước 9 km, cách Thánh Địa Mỹ Sơn 10 km về phía Tây. Từ ngã ba Nam Phước (Thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên) đi theo đường 537 khoảng 9km sẽ đến di tích Kinh đô Trà Kiệu nay là Nhà thờ Núi Trà Kiệu.

Theo CTTĐT Quảng Nam
Du lịch, GO!

Sunday, 11 May 2014

(iHay) - Dọc đường thiên lý Bắc – Nam, không phải du khách nào cũng dành chút thời gian hiếm hoi để ghé thăm Khu di tích quốc gia đặc biệt Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải (Quảng Trị). Cách đây gần 40 năm, dòng sông Bến Hải trùng với vĩ tuyến 17 trên bản đồ từng là đường giới tuyến phân chia hai miền Nam – Bắc.

Những ngày này, đi dọc Quốc lộ 1A ngang qua huyện Vĩnh Linh, có thể nhìn thấy cây cầu Hiền Lương huyền thoại rực rỡ hai màu xanh vàng, cờ Tổ quốc đỏ thắm tung bay trong gió. Cách cây cầu không xa là kỳ đài, nhà liên hiệp và khu trưng bày vĩ tuyến 17 – khát vọng thống nhất. Chỉ cần một lần ghé thăm, nhìn thấy, nghe kể, bao trang sử đau thương nhưng hào hùng của dân tộc bất chợt ùa về qua dòng tâm trí của lữ khách phương xa.

< Lô cốt theo dõi đặt ở bờ nam.

Cuối tháng 3 năm nay, cầu Hiền Lương được sơn lên hai màu, nửa xanh nửa vàng, nhằm gợi nhớ về thời kỳ đất nước bị chia cắt làm hai miền, hai chế độ. Trải qua bao biến thiên dâu bể của thời gian, những thanh gỗ làm bề mặt cầu đã in hằn dấu ấn của mưa nắng, bão lũ, thiên tai miền Trung đầy khắc nghiệt. Đứng trên cầu, gió lộng từ dưới dòng Bến Hải thổi vào người mát rượi.


< Dàn loa bên bờ bắc.

Phía xa xa là những rặng tre làng cao vút đu đưa, con đường làng ngoằn ngèo, những bãi bồi, cánh đồng lúa trải màu xanh thanh bình, yên ả. Nhưng vẫn còn đó những mái nhà nghèo đơn sơ, im lìm bên bờ sông nước như vốn dĩ mấy chục năm lịch sử đã trôi qua.

Đứng ở bờ nam giới tuyến nhìn sang, cờ Tổ quốc ở kỳ đài phấp phới trong gió nhẹ, dàn loa phát thanh cũ kỹ vẫn sừng sững hướng qua sông. Đứng ở bờ bắc nhìn qua, những chòi canh đen ngòm như ẩn chứa nhiều họng súng chết chóc và con đường Quốc lộ 1 chạy thẳng một mạch vào Nam.

Trước khu trưng bày vĩ tuyến 17 là hai chiếc loa lớn, từng được nhân dân ở bờ bắc giới tuyến dùng nó để phát thanh tuyên truyền, kêu gọi quần chúng đấu tranh cách mạng, công tác địch vận.

Tham quan khu trưng bày, du khách trong và ngoài nước đều bàng hoàng tột cùng trước sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh, mà Vĩnh Linh là tuyến lửa hứng chịu vô vàn bom đạn của quân thù.

Một nữ du khách người Mỹ dẫn theo con nhỏ đứng trước những bức ảnh chụp cảnh các em bé Việt Nam bị bom đạn làm cháy bỏng da thịt. Bà vội đưa tay gạt nhanh dòng nước mắt đang chảy tràn rồi nói : “Chiến tranh mang lại sự tàn khốc không thể tưởng tượng nổi, chúng ta đều căm ghét chiến tranh và không ai muốn chúng gây hại điều gì với con nhỏ của mình”.

< Bức tượng người mẹ vá cờ.

Bom đạn, cái chết, sự chiến đấu kiên cường của nhân dân, cảnh đẹp làng quê đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, nỗi đau chia cắt đất nước, khát vọng hòa bình, thống nhất lãnh thổ. Tất cả đều biểu hiện sinh động qua bức ảnh, hiện vật, kỷ vật, bức tượng đá hay thậm chí chỉ là một chiếc khăn quàng của bà má miền Nam.

Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải ghi lại trang sử dân tộc nhiều đau thương nay đã khép lại để cùng nhau hướng tới tương lai rực rỡ như hai màu vàng xanh của cây cầu huyền thoại.

Theo Thanh Tuấn (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

Tuesday, 6 May 2014

Đông Triều hay còn được gọi là triều đình phía Đông, trước kia được gọi là An Sinh, chính là quê gốc của nhà Trần trước khi dời đến Long Hưng – Thái Bình và Thiên Trường – Nam Định.

< Nơi đây có Ngoạ Vân am cổ kính là nơi Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông hoá Phật.

Nhà Trần là một trong những triều đại vang danh bậc nhất trong lịch sử dựng nước, giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc ta. Các di tích lịch sử về nhà Trần có ở khá nhiều nơi, nhưng không ở đâu phong phú, đặc biệt và còn nhiều dấu tích dưới lòng đất như ở Đông Triều.

< Hay đến thăm Phật Hoàng Tháp, một trong 7 địa điểm lưu giữ xá lị của Ngài sau khi hoả thiêu.

Nằm ở phía Nam dãy núi Đông Triều thuộc địa bàn 4 xã An Sinh, Bình Khê, Thuỷ An và Tràng An, Khu di tích quốc gia đặc biệt nhà Trần là quần thể di tích lăng mộ, đền, chùa, am tháp với 14 di tích trải rộng.

Đây là vùng thánh địa linh thiêng mang đậm yếu tố lịch sử, văn hoá đặc sắc, nơi quê gốc nhà Trần. Đến với khu di tích đặc biệt này, bạn có thể tham quan chùa Ngoạ Vân toạ lạc trên một địa thế đẹp trên cả phương diện cảnh quan và phương diện phong thuỷ, có tả thanh long, hữu bạch hổ, sau có chẩm, trước có án, xa hơn là trường lưu thuỷ.

< Cùng với chùa Ngoạ Vân, một địa điểm nữa liên quan trực tiếp đến sự phát triển của tông phái Trúc Lâm, đó là Chùa Hồ Thiên trên núi Phật Sơn, nơi Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông đăng đàn, thuyết pháp. Trên chùa có ngọn tháp đá 7 tầng mà đến nay kiến trúc của ngôi tháp vẫn là bí ẩn đối với các nhà nghiên cứu.

< Một trong những điểm nhấn của khu di tích quốc gia đặc biệt nhà Trần đó là Đền Sinh - nơi thờ 8 vua Trần đặt lăng, mộ tại xã An Sinh.

< Đền và lăng, mộ 8 vua Trần là trung tâm có tính chất văn hoá tiêu biểu của nước Đại Việt thời Trần. Lăng mộ vua Trần Anh Tông, vua thứ 4 đời Trần là lăng vua đầu tiên xây năm 1320 trên quê gốc Đông Triều.

< Hay vãn cảnh chùa Quỳnh Lâm được xây dựng từ thời Lý, chùa được xây dựng ở thế đất “rồng chầu, hổ phục”. Thế kỷ XIV, chùa Quỳnh Lâm là nơi đào tạo tăng tài lớn nhất của Thiền phái Trúc Lâm thế kỷ XIV. Vườn tháp chùa Quỳnh Lâm và tháp đá mộ các thiền sư có kiến trúc độc đáo, một di sản văn hoá tiêu biểu không chỉ của tỉnh Quảng Ninh mà là của Việt Nam.

< Trong những năm qua, khu di tích quốc gia đặc biệt nhà Trần đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan.

Để bảo tồn và phát huy, huyện Đông Triều đã có những nỗ lực trong việc tuyên truyền, quảng bá giá trị đặc biệt, độc đáo của khu di tích. Đây sẽ là nơi du lịch tâm linh, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, góp phần tuyên truyền, cổ vũ động viên, giáo dục lòng yêu nước, tự hào về truyền thống đấu tranh của dân tộc.

Theo Xuân Quảng - Đỗ Phương (báo Quảng Ninh)
Du lịch, GO!

Monday, 5 May 2014

(TNO) - Đầm Thị Nại (tỉnh Bình Định) là nơi diễn ra nhiều trận chiến ác liệt, quyết định số phận của các vương triều như: Chămpa, Tây Sơn, triều Nguyễn...

Vùng biển gần bờ xã Nhơn Hải (TP.Quy Nhơn) tồn tại một bờ thành chìm trong lòng biển, chỉ nhìn thấy khi thủy triều xuống. Bờ thành này nối liền vách đá thôn Hải Nam ra đến đảo Hòn Khô của thôn Hải Đông. Bề mặt thành phẳng, rộng hơn 10 m, độ cao của thành chưa xác định được. Những ngư dân làm nghề thợ lặn khẳng định bờ thành này không xây bằng đá hoặc gạch mà bằng hồ vữa đặc nguyên khối.

Thị Nại có âm gốc tiếng Chămpa gọi đầy đủ là Thi Lị Bi Nại, tên phiên âm chữ Cri-Banoi là tên hải cảng của Vương quốc Chămpa. Thời Chămpa và thời Tây Sơn, Thị Nại có vai trò rất quan trọng, vừa là quân cảng và vừa là thương cảng rất sầm uất.

Thôn Hải Giang (cách bờ thành nói trên hơn 5 km) cũng có bờ thành chìm dưới lòng biển, thủy triều xuống sẽ nhìn thấy đoạn dài hơn 3 km ở gần bờ, người dân địa phương gọi là Rạng Cầu. Hai đoạn bờ thành này có kết cấu giống nhau, nên nhiều người cho rằng đó là một tường thành kéo dài. Tuy nhiên, không ai tính chính xác tường thành này dài đến đâu và được xây dựng từ thời nào.

Vùng núi thôn Hải Giang lại có một lũy đá kéo dài, bao quanh đỉnh núi Tam Tòa (thuộc hệ thống núi Phương Mai) của khu vực Hải Minh (P.Hải Cảng, TP.Quy Nhơn). Lũy được xây dựng bằng cách xếp chồng những viên đá núi có nhiều kích cỡ khác nhau. Ở những nơi còn nguyên vẹn, chiều cao của lũy đá khoảng từ 1 - 1,5 m, đáy rộng 2 m, bề mặt rộng 1,2 m.

< Bờ thành ở vùng biển Nhơn Hải được nhìn thấy khi thủy triều xuống.

Theo TS Đinh Bá Hòa, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Bình Định, bờ thành Nhơn Hải và lũy đá trên núi Tam Tòa là những công trình phòng thủ khác nhau. Theo thư tịch cổ để lại thì người Chămpa xây dựng 4 thành lớn tại Bình Định gồm: Thị Nại (H.Tuy Phước), Đồ Bàn (TX.An Nhơn), Chas (TX.An Nhơn), Uất Trì (H.Tây Sơn) và một số thành nhỏ khác. Nhưng đến nay vẫn chưa phát hiện có tư liệu nào nhắc đến bờ thành được xây dựng ở vùng biển Nhơn Hải. “Bờ thành ở Nhơn Hải là một di tích rất lạ, tường thành nằm dưới nước hàng trăm năm qua vẫn còn nguyên vẹn chứng tỏ kỹ thuật xây dựng của người Chămpa rất độc đáo”, TS Hòa nói.

< Ông Nguyễn Minh Trung và khẩu thần công được vớt lên đầu tiên. Súng được đúc bằng đồng, dài 2,7m, đường kính nòng 0,25m, đường kính thân 0,35m.

Theo TS Đinh Bá Hòa, Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ có ghi chép vào tháng 8 năm Canh Tý (1840), vua Minh Mạng cho xây dựng pháo  đài Hổ Ky ở cửa biển Thị Nại, chính quyền địa phương đã huy động trên 500 dân phu tham gia xây dựng. Sau lưng pháo đài Hổ Ky, trên đỉnh núi Phương Mai là một hệ thống thành lũy yểm trợ, được xây dựng tại 2 nơi riêng biệt là gò Vũng Tàu và gò Kinh Để. Phòng tuyến gò Kinh Để có nhiệm vụ ngăn không cho quân địch tiến từ sườn phía đông để tấn công pháo đài Hổ Ky vào phía bên trong cửa Thị Nại. Còn phòng tuyến gò Vũng Tàu để ngăn quân bộ tấn công mặt tây của pháo đài Hổ Ky và chiếm cửa biển Thị Nại.

Những trận thủy chiến nổi tiếng

Đầm Thị Nại là cửa ngõ ra vào Bình Định bằng đường thủy nên triều đại nào cũng xây dựng hệ thống phòng thủ để trấn giữ. Thời Chămpa có xây thành Thị Nại, tháp Bình Lâm. Thời Tây Sơn, thủy quân cũng đóng bản doanh tại đầm Thị Nại và núi Tam Tòa. Thành Thị Nại đóng vai trò là tiền đồn bảo vệ cho kinh đô Đồ Bàn của Chămpa nên các cuộc tấn công bằng đường thủy thường nhắm vào thành này.

< Khẩu thần công sau khi đục bỏ lớp hàu ốc bám bên ngoài.

Trận thủy chiến đầu tiên tại thành Thị Nại được sử sách ghi lại là trận chiến chống quân Nguyên - Mông do Toa Đô chỉ huy xâm lược Chămpa vào cuối năm 1282. Thủy binh do Toa Đô chỉ huy tiến đánh thành Thị Nại quá mạnh, quân Chămpa phải rút lui.

Khoảng thời gian từ năm 1792 - 1801, thủy quân của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn đã có 5 lần giao chiến tại đầm Thị Nại. Các trận năm 1792, 1793, thủy quân Nguyễn Ánh tấn công Thị Nại nhưng đều phải lui binh. Lần thứ 3, năm 1799, đại quân Nguyễn Ánh vượt qua được cửa Thị Nại, đánh chiếm luôn thành Hoàng Đế (cũng là nơi xây dựng thành Đồ Bàn cũ). Năm sau, quân Tây Sơn từ kinh thành Phú Xuân (Huế) do Trần Quang Diệu chỉ huy vào đánh lấy lại được Thị Nại rồi giao cho Võ Văn Dũng trấn thủ, sau đó kéo quân vây đánh thành Hoàng Đế.

< Súng thần công của quân Tây Sơn được tìm thấy tại căn cứ thủy binh Tây Sơn ở cảng Thị Nại (Quy Nhơn), hiện được trưng bày trong Bảo tàng Tây Sơn (Bình Định).

Năm 1801, Nguyễn Ánh cho đại binh ra đánh Thị Nại nhằm giải vây cho thành Hoàng Đế. Đây là trận đại chiến lớn nhất từ trước đến nay tại đầm Thị Nại. Trong sách Nhân vật Bình Định, tác giả Đặng Quý Địch dẫn lại tư liệu của ông Barizy (một người ngoại quốc có mặt trong đoàn quân của Nguyễn Ánh tấn công Thị Nại) khẳng định quân Tây Sơn tại cửa Thị Nại gồm có 557 tàu chiến lớn nhỏ, 1.827 đại bác các cỡ và 53.250 thủy quân. Thủy quân của nhà Nguyễn có 91 thuyền chiến, 91 đại bác, 10.400 lính và lực lượng rất đông quân bộ ở Phú Yên tấn công ra.

< Một phế tích của đền thờ dưới chân núi.

Theo ông Barizy, quân hai bên đánh nhau rất dữ dội vào đêm rằm tháng giêng năm Tân Dậu (1801). Quân Nguyễn tập kích rất bất ngờ, đốt rất nhiều thuyền chiến của quân Tây Sơn.

Các thuyền chiến và pháo hạm hai bên cầm cự đến chiều ngày 16 tháng giêng thì quân Tây Sơn bị vỡ trận, Võ Văn Dũng dẫn thủy quân rút lui. Trận này, 4.000 quân của Nguyễn Ánh bị tử thương, thuyền quân Tây Sơn bị đốt gần hết.

“Lũy đá cổ trên núi Tam Tòa đã được nhắc đến trong sử sách triều Nguyễn nhưng có thể đã có từ các triều đại trước và nhà Nguyễn cho xây dựng lại. Cuối thế kỷ 18, quân Tây Sơn đã thiết lập đồn, đặt đại bác ở núi Tam Tòa, khống chế cửa biển Thị Nại. Ngày nay, người dân và các cơ quan chức năng đã trục vớt 14 khẩu súng thần công tại đầm Thị Nại là những chứng tích còn lại của trận thủy chiến giữa quân Tây Sơn và quân nhà Nguyễn. Chắc chắn trong khu vực đầm Thị Nại còn rất nhiều dấu tích liên quan đến những trận chiến này nên cần phải được nghiên cứu thêm”, TS Đinh Bá Hòa nói.

Theo Hoàng Trọng (báo Thanh Niên)
Du lịch, GO!

Friday, 2 May 2014

Ngọn núi như một đám mây rủ nên có tên là Thùy Vân. Ngoài ra, núi còn có nhiều tên gọi khác, như: núi Đá Dựng, Hòn Thung, núi Ngang, núi Điện Bà, núi Châu Viên, núi Trương Phi... và tên ngày nay là núi Minh Đạm.

Nằm ven biển, Thùy Vân là nơi lý tưởng để ngắm toàn vùng biển Long Hải từ trên cao. Với địa hình hiểm trởc cùng rừng cây phủ xanh ngọn núi với nhiều hang hốc nên được sử dụng làm căn cứ kháng chiến của quân và dân Bà Rịa- Vũng Tàu từ năm 1948-1975.
Khu căn cứ này được chia làm bốn khu: Chùa Viên, Đá Chẻ, Chùa Giếng Gạch, Đá Chồng với các hang trọng yếu được phục dựng khai thác du lịch (hang Huyện ủy, hang Huyện đội, hang Quân y, hang Thị xã Cấp, hang Quân giới, hang Binh vận, hang B2, hang xã Phước Hải…).

Những ngày tháng Tư hào hùng, Thùy Vân là điểm đến lý thú để vừa tìm hiểu về tích lịch sử, vừa thưởng lãm phong cảnh.

Ngọn Thùy Vân nằm trên con đường ven biển nối liền miền Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, tức nằm dọc theo đường biển Long Hải- Hồ Tràm thuộc địa phận Bà Rịa- Vũng Tàu, nối hai tuyến quốc lộ 51 và 55, chỉ cách Vũng Tàu khoảng 30 cây số. Con đường trải nhựa đi qua những khu resort nổi tiếng bậc nhất Việt Nam. Vừa qua khỏi các khu resort, có bảng hướng dẫn bên trái rẽ vào khu căn cứ cách mạng Minh Đạm khoảng 3 cây số. Cổng vào khu căn cứ nằm ngay chân núi. Đường lên núi ngoằn ngoèo theo địa hình hiểm trở, được trải nhựa nên ô tô có thể lên tới nơi. Con đường mát rượi bóng cây, không khí trong lành, dễ chịu.

Sau vài mươi phút chạy xe gắn máy lên núi, du khách đặt chân đến khu căn cứ Minh Đạm- ghép tên từ hai vị Bí thư và Phó Bí thư huyện Đất Đỏ là ông Bùi Công Minh và ông Mạc Thanh Đạm đã hy sinh trên đường đi công tác do địch càn quét năm 1948. Ngọn núi cũng được đổi tên thành Minh Đạm.

Toàn bộ khu căn cứ xưa được phục dựng và giữ gìn nguyên trạng. Không cần người dẫn đường, du khách có thể leo lên những sườn đồi, những tảng đá lớn để tự khám phá toàn bộ khu căn cứ này trong một buổi.

Du khách sẽ cảm nhận rõ hơn những năm tháng chiến tranh ác liệt và hiểu thêm về cuộc sống chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng khi luồn rừng, hay lách mình giữa các hang hốc hiểm trở. Những hang đá lớn, nhỏ trên núi được các chiến sĩ cách mạng tận dụng làm nơi trú ngụ, làm việc. Có những hang sâu hàng chục mét nhưng có những hang nhỏ, hốc đá chỉ vài mét. Hang hốc chồng chất lên nhau rất vững chãi, tạo thành "địa lợi" cho khu căn cứ. Ở các hang đều có bảng chỉ dẫn với những thông tin được ghi chú rõ ràng.

Đặc biệt, từ đỉnh núi hoặc sườn núi, du khách có thể ngắm toàn cảnh biển Long Hải- Hồ Tràm xanh ngút ngàn. Những con sóng bạc đầu lăn tăn, những con thuyền nhấp nhô như điểm xuyến thêm sắc màu trên tấm thảm xanh biếc ấy.

Người ta ví dãy bờ biển này như một con rồng xanh uốn mình dưới chân núi Thùy Vân. Xuống núi là ra đến biển, du khách thỏa sức đắm mình trong làn nước biển xanh mênh mang. Bãi biển Long Hải và Hồ Tràm được khai thác du lịch với những khu resort cao cấp nhưng không có tình trạng cát cứ, quây chiếm bãi biển. Ngược lại, du khách và người dân địa phương vẫn có thể vui đùa, tắm biển trên suốt bãi biển sạch sẽ này. Chỉ riêng Bãi Dương còn giữ nguyên vẹn nét hoang sơ, chưa có những công trình, kiến trúc du lịch nào.

Giá lưu trú và ăn uống ở đây khá "mềm". Mùa lễ, Tết, khu vực này thu hút rất đông du khách nhưng phần lớn là khách địa phương và phụ cận nên họ đi về trong ngày. Vì thế, giá lưu trú gần như không đổi. Kết hợp lên rừng, xuống biển trong cùng một chuyến đi; vừa tìm hiểu lịch sử, vừa ngắm cảnh thiên nhiên ngoạn mục; đồng thời, tránh được những chỗ quá đông khách, ồn ào như Vũng Tàu, Phan Thiết, nhất là không phải canh cánh nỗi lo chặt chém, "cháy" phòng nghỉ dịp lễ…- đó là những lý do để du khách gần xa chọn đến với khu di tích lịch sử Minh Đạm.

Theo Thanh Nhàn (báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Thursday, 24 April 2014

(NĐT) - Giữa sự xô bồ của phố phường Hà Nội có một ngôi đền trầm mặc lưu giữ những dấu tích văn hóa, lịch sử oai hùng của dân tộc. Đền Voi Phục thờ vị anh hùng dân tộc gắn liền với lịch sử đấu tranh chống quân xâm lược phương Bắc của dân tộc Việt Nam.

< Cổng đền Voi Phục.

Đền Voi Phục nằm trên đường Thụy Khuê, thờ Đức Thánh Linh Lang được xây dựng đầu tiên trong khoảng 269 ngôi đền thờ Đức Thánh. Theo dân gian tương truyền, ngày 13/12 năm Kỷ Tỷ (1030), thứ phi của vua Lý Thái Tông là Hạo Nương đã hạ sinh một hoàng tử khôi ngô tuấn tú tại làng Thụy Chương (nay thuộc phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội) ở ven hồ Dâm Đàm (nay là Hồ Tây). Đức vua vui mừng đặt tên cho hoàng tử là Linh Lang (hay còn gọi là Hoàng Chân).

Từ nhỏ, Linh Lang đã là một người tinh thông võ nghệ, đến năm 14 tuổi đã theo vua cha đi đánh giặc Chiêm Thành. Đến năm 1076 - 1077, nhà Tống đem quân sang xâm chiếm nước ta, ngài đã theo sự phân công của Lý Thường Kiệt đảm nhiệm thủy quân đánh ngược lên phía Bắc, tiêu diệt cụm căn cứ của chánh tướng Quách Quỳ, cùng phối hợp với đạo quân của Lý Thường Kiệt tấn công Triệu Khiết khiến quân Tống thất trận trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu, Bắc Ninh ngày nay).

Trong trận quyết chiến này, hoàng tử Linh Lang đã anh dũng hy sinh. Vua hay tin, vô cùng đau xót, để tưởng nhớ công lao đánh đuổi giặc ngoại xâm của Linh Lang, vua đã sắc phong hoàng tử thành Linh Lang Đại Vương thượng đẳng tối linh thần (một sắc phong cao nhất thời Lý) và ban lệnh cho người dân những nơi Linh Lang đã đi qua phải xây đền thờ.

Ngay trên quê hương của ngài, người dân Thụy Khuê đã cho xây đền thờ để tỏ lòng thành kính. Đây là ngôi đền đầu tiên xây dựng thờ Đức Thánh Linh Lang tại miền Bắc. Cụ Nguyễn Văn Tùng (73 tuổi, người trông coi đền) cho biết: "Lúc đầu, đình hướng về Tây Nam thành Thăng Long (đường Hoàng Hoa Thám bây giờ). Tương truyền, trên đình có gác bia, các quan trong triều đến đền, hễ ai từ đó vào mà không xuống ngựa thì ngựa như có ai quất vào chân bị ngã. Các quan thấy đó như là một điều nhắc nhở mình chưa có lòng thành kính với Đức Thánh Linh Lang. Đến cuối đời Trần, người ta quyết định đổi hướng đình thành hướng Bắc như ngày nay, trước mặt đền nhìn ra Hồ Tây có đầm sen tỏa hương, chếch một mé là đền Quán Thánh tạo cảnh quan đẹp hơn cho đình. Đó là hai lý do để đổi hướng đình".

Cái tên đền Voi Phục bắt nguồn từ câu chuyện vào đầu đời Lê. Theo phong thủy, đền nằm trên mình con Phượng Hoàng, trên lưng Phượng Hoàng có một giếng ngọc. Khi đào giếng ngọc, người dân đã tìm thấy một đôi voi đang ở thế phủ phục. Từ đó, đền có tên là đền Voi Phục. Đôi voi đá hiện vẫn được đặt ở cửa đình, đầy uy nghiêm.

Trong đền Voi Phục ở Thụy Khuê hiện còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật cổ. Đó là bộ nghi trượng thờ trong hậu cung, nhìn còn mới nguyên nhưng trên thân đã được dán ký hiệu đánh dấu niên đại từ thời nhà Lê (do Hội Di sản Văn hóa dân gian Hà Nội thẩm định). Ngoài hiên chỗ bậc tam cấp còn hai đôi rồng đá được chế tác với những nét hoa văn cách điệu, không chi tiết tinh xảo như hình ảnh rồng đá thời Nguyễn sau này. Những rồng đá ở đây được làm theo phong cách rồng thời Lý với dáng uốn khúc của rồng, còn hoa văn là hình sóng nước, hoa lá.

Thần Linh Lang Đại Vương được nhiều nơi trong cả nước thờ cúng, mỗi nơi đều có bản thần tích riêng. Theo thống kê tại kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cả nước đã tìm thấy trên 70 vạn bản thần tích ghi chép về sự tích thần Linh Lang. Hình tượng thần Linh Lang là hình tượng người anh hùng trong công cuộc dẹp giặc ngoại xâm giữ nước của dân tộc. Gắn liền với sự tích con voi phủ phục khi nghe tiếng thét của hoàng tử, ngôi đền được gọi là đền Voi Phục từ ấy. Ngày nay, ở cổng đền vẫn còn nguyên hai bức tượng voi phủ phục hai bên, đời đời tưởng nhớ vị anh hùng đánh giặc cứu nước, được nhân dân biết ơn phong Thánh, thờ phụng muôn đời. Đặc biệt, trong khuôn viên di tích còn có chín cây muỗm hơn 700 tuổi, đã được Hội Di sản Việt Nam xếp hạng.

Cũng theo cụ Tùng, việc trồng cây trong các đền, đình Việt Nam là một thói quen của người Việt. Trồng cây để đánh dấu một mốc lịch sử khi xây dựng đền và lý do trồng chín cây với ý nghĩa con số 9 là trường cửu, trường tồn với thời gian. Một số nơi như chùa Láng cũng có chín cây muỗm nhưng tuổi thọ thì không sánh được với những cây ở đền Voi Phục. Kết quả điều tra xác định, tuổi của cả chín cây muỗm này vào khoảng 700 năm. Cây nhỏ nhất có chu vi thân 2,92m, cao 17m; cây to nhất là 5,20m và 29m. Hiện trong đền có tám cây muỗm ở trong khuôn viên. Do biến động của xã hội mà diện tích đền Voi Phục đến nay chỉ còn hơn 2.000m2, cây muỗm còn lại giờ đã ở ngoài khuôn viên đền, nằm đối diện với cửa chính bên kia đường Thụy Khuê trong khu vực nhà dân...

Theo Đỗ Thơm (Người Đưa Tin)
Du lịch, GO!

Thursday, 17 April 2014

Đền Trung Đô là nơi thờ tướng quân Gia Quốc công Vũ Văn Mật cùng các thuộc tướng của mình đã có công xây dựng căn cứ bảo vệ biên cương Tổ quốc và phát triển vùng đất Trung Đô cũng như Bắc Hà thuộc trấn Tuyên Quang xưa (Lào Cai ngày nay) thành trung tâm kinh tế - xã hội thời bấy giờ.

< Đền Trung Đô.

Đền Trung Đô nằm lọt trong vùng thung lũng nơi hợp lưu của 2 dòng suối Nậm Thin (hay còn gọi là Nậm thiên) lũng suối Nậm Khòn ở phía Bắc và phía đông với sông Chảy nằm ở phía Tây của đền. Địa thế ở đây có sông, có núi, hội tụ đầy đủ các điều kiện cần có về phong thuỷ tạo cho ngôi đền một vẻ uy nghi trang trọng.

Vũ Văn Mật là nhân vật lịch sử có thật, sống vào thời Lê (Lê Mạt) khoảng những năm từ 1516 trở đi (không rõ năm sinh và mất, ông đã kế tục sự nghiệp người anh là Vũ Văn Uyên xây dựng căn cứ chống nhà Mạc để khôi phục nhà Lê cách đây trên 300 năm ).

Cách đền khoảng 30m, trong khu rừng cấm có một gò đất khá to, xung quanh được xếp đá tảng bảo vệ. Tương truyền đó là ngôi mộ đôi của hai vợ chồng tướng quân Hoàng Vần Thùng. Sau khi Gia Quốc công Vũ Văn Mật kéo quân về xuôi, Hoàng Vần Thùng được phong làm đại tướng quân, toàn quyền chỉ huy vùng Trung Đô. Trong một trận đánh giặc phương Bắc, mặc dù chiến đấu hết sức dũng cảm, song thế giặc quá mạnh, quân của ông bị thua. Quyết không để lọt vào tay giặc, ông và vợ đã quyên sinh. Những binh lính còn sống sót và dân làng đã đắp đất vào nơi ông bà mất, mối xông lên thành gò lớn.

Các sự kiện liên quan đến hoạt động của ông đều được ghi chép lại khá nhiều trong các thư tịch cổ, cả chính sử cũng như ngoại sử. Qua các sử liệu cho biết, ông là một con người gan dạ khoẻ mạnh và là một vị tướng “ Trung quân ái quốc, biết đặt vận nước lên trên tất cả ) của triều đại phong kiến thế kỷ 16 (Lê Quí Đôn toàn tập – Tiến văn tiểu lục trang 354).

Trải qua những thăng trầm của lịch sử hơn 300 năm, ngôi đền hiện nay có 3 gian thờ với diện tích hơn 30 m2. Tồn tại hơn 300 tuổi, dấu tích của ngôi đền xưa  còn lại những tảng kê chân cột bằng đá, những hiện vật như gạch ngói, trang trí minh chứng cho một thời vàng son. Song nó có giá trị tinh thần vô cùng to lớn đối với người dân Trung Đô nói riêng và tỉnh Lào Cai nói chung. Đó là giáo dục truyền thống cần cù lao động, tự lực tự cường, yêu nước chống thù trong giặc ngoài để bảo vệ đất nước.

Sau khi được nhà nước công nhận di tích văn hóa - lịch sử Quốc gia (năm 2008), tỉnh Lào Cai, huyện Bắc Hà đã đầu tư xây dựng, tái tạo khu di tích này gắn với quy hoạch phát triển làng sinh thái - văn hóa Trung Đô, tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc Tày nơi đây phát triển mô hình “du lịch cộng đồng”. Hiện nay, du khách đến Trung Đô không chỉ được sống trong không gian linh thiêng mà còn có thể hoà mình với cảnh sắc thiên nhiên, cộng đồng văn hoá nơi đây. Hằng năm, cứ vào Rằm tháng Giêng, người dân Trung Đô lại tổ chức ngày hội lễ rất long trọng, tạo cho ngôi đền sự uy nghiêm và đầy linh thiêng.

Theo Dulich.vn và báo Quảng Ngãi
Du lịch, GO!

Sunday, 13 April 2014

(BCB) - Đến với Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo chúng ta không những được tìm hiểu truyền thống lịch sử với nhiều điểm di tích mà còn được khám phá, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của khu rừng nguyên sinh.

< Chụp ảnh lưu niệm tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo.

Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo phân bố trên địa bàn 2 xã Tam Kim, Hoa Thám (Nguyên Bình), là trung tâm hệ thống các di tích lịch sử cách mạng liên quan đến sự kiện thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân (VNTTGPQ), bao gồm 5 điểm di tích: Di tích Khu rừng Trần Hưng Đạo; hang Thẳm Khẩu; đồn Phai Khắt; Vạ Phá, xã Tam Kim và  di tích đồn Nà Ngần, xã Hoa Thám.

Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo nơi lưu trữ những địa danh, hiện vật gắn liền với giai đoạn lịch sử đặc biệt quan trọng, có giá trị lịch sử đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam; gắn liền với sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc đời hoạt động của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Là nơi chứng kiến ngày thành lập Đội và diễn biến hai trận đánh đầu tiên đồn Phai Khắt và đồn Nà Ngần.

Rừng Trần Hưng Đạo là một khu rừng nguyên sinh, diện tích 201,7 ha. Khu rừng có 4 điểm di tích: Địa điểm thành lập Đội VNTTGPQ (22/12/1944); lán nghỉ và bếp ăn của Đội VNTTGPQ; mỏ nước phục vụ nước sinh hoạt cho Đội VNTTGPQ; Đỉnh Slam Cao - nơi đồng chí Võ Nguyên Giáp và Ban chỉ huy Đội VNTTGPQ đặt trạm quan sát.

Đến với khu rừng Trần Hưng Đạo, hình ảnh đầu tiên là bức phù điêu 34 chiến sỹ trong buổi lễ thành lập Đội VNTTGPQ. Trước bức phù điêu có 1 khoảng sân nhỏ lát đá, các đoàn khách về nguồn thường làm lễ báo công tại đây. Từ bức Phù điêu 34 chiến sỹ đi theo con đường bê tông với những bậc cao dần, hai bên là những cây cổ thụ cao rợp bóng; đi khoảng 200 m đến ngã ba rẽ phải xuống khoảng 10 bậc là khu đất bằng nơi ghi dấu sự kiện thành lập Đội VNTTGPQ.

< Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 22/12/1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng).

Đến đây, chúng ta không khỏi xúc động khi bắt gặp hình ảnh cây sau sau già, nơi giương cao lá cờ đỏ sao vàng chứng kiến sự ra đời của Đội VNTTGPQ. Tại địa điểm này, năm 1994 đã dựng một nhà Bia trung tâm. Vị trí trung tâm đặt bia ghi dấu sự kiện, 4 mặt bia chữ vàng khắc toàn văn bản Chỉ thị thành lập Đội VNTTGPQ; 10 lời thề danh dự do đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc trong lễ tuyên thệ (sau này trở thành lời thề danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam); danh sách 34 chiến sỹ.

Nằm cách nhà bia trung tâm khoảng 30m, con đường với những hàng cây cổ thụ rợp bóng đưa chúng ta đến địa điểm 2 dãy nhà nghỉ - bếp ăn được cải tạo xây dựng, mô phỏng lán nghỉ của Đội VNTTGPQ. Đối diện lán nghỉ là dãy nhà bếp ăn của Đội VNTTGPQ, đến đây chúng ta sẽ được nghe kể về bữa ăn đạm bạc trong buổi đầu thành lập Đội, thể hiện tinh thần quyết tâm, ý chí chiến đấu đánh thắng kẻ thù xâm lược, giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

Từ khu lán nghỉ - bếp ăn theo con đường nhỏ xuống khoảng 50m chúng ta nhìn thấy một mỏ nước, nơi lấy nước sinh hoạt của Đội VNTTGPQ. Tại đây xung quanh vẫn còn những cây sấu cổ thụ  Đội VNTTGPQ đã dùng lá và quả để phục vụ sinh hoạt hằng ngày.

Từ nhà bia trung tâm,  tiếp tục chinh phục những bậc đá cao dần, qua 505 bậc chúng ta đến đỉnh Slam Cao, cao nhất của núi Dền Sinh. Từ đây có thể quan sát các hướng, nhìn thấy đồn Phai Khắt, làng Phai Khắt, núi Thẳm Khẩu, đồn Nà Ngần, đồn Benle bên đường số 3B trên đường đến đèo Cao Bắc, nên đồng chí Võ Nguyên Giáp và Ban chỉ huy Đội đã nghiên cứu đặt trạm quan sát. Tại đây, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp quan sát để đưa ra các phương án đánh đồn Phai Khắt. Ngoài ra, đây còn là khuôn viên dành cho du khách nghỉ chân để tận hưởng không khí trong lành với những cơn gió lộng để quên hết những mệt mỏi sau khi chinh phục được đỉnh núi.

< Đỉnh Slam cao, ngày xưa là chốt canh gác của Đội VNTTGPQ trong rừng Trần Hưng Đạo.

Sau khi chinh phục đỉnh Slam Cao, chúng ta quay trở lại làng phai Khắt, từ trung tâm làng Phai Khắt theo đường mòn đi bộ khoảng 500m đến hang Thẳm Khẩu. Ở lưng chừng núi, hang Thẳm Khẩu sâu khoảng 03 m, dài khoảng 12m, có thể trú được khoảng 40 người. Hang khô, thoáng, trong hang có nhiều mô đá nhỏ gồ ghề, địa điểm này rất bí mật, thuận lợi cho việc quan sát và nhận thông tin liên lạc. Bên phải hang có một phiến đá to, tương đối bằng phẳng, được sử dụng làm bàn để vẽ sơ đồ chuẩn bị đánh Đồn Phai Khắt, Nà Ngần.

Trong giai đoạn năm 1941 - 1944, hang Thẳm Khẩu được sử dụng làm trạm liên lạc, đưa cơm phục vụ cho các đồng chí hoạt động cách mạng, đặc biệt là nơi tập trung của Đội VNTTGPQ vào ngày 24/12/1944 để chuẩn bị đánh Đồn Phai Khắt.

< Chiều  22/12/1944 34 đội viên VNTTGPQ đã ăn một bữa cơm chiều trước khi vào trận đánh đồn Phai Khắt.

Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng trần Hưng Đạo còn hai địa điểm ghi dấu chiến công oanh liệt, mưu trí đầu tiên của Đội ngay sau ngày thành lập. Đó là Đồn Phai Khắt, xã Tam Kim và Đồn Nà Ngần, xã Hoa Thám.

Đồn Phai Khắt là nơi chứng kiến trận đầu ra quân của Đội VNTTGPQ (25/12/1944). Đồn là nhà của đồng chí Nông Văn Lạc được xây dựng từ năm 1940. Từ đây có 3 đường đi các ngả, về phía Nam đi Ngân Sơn (Bắc Kạn), về phía Đông Bắc đi Nà Ngần và một con đường độc đạo ra châu lỵ Nguyên Bình. Năm 1943, thực dân Pháp đã chiếm nhà của đồng chí Nông Văn Lạc để làm đồn. Hiện nay, Đồn Phai Khắt đã được tu sửa trở thành Nhà trưng bày bổ sung của khu di tích. Nơi đây có trưng bày hình ảnh, hiện vật tái hiện buổi lễ thành lập Đội VNTTGPQ.

Từ trung tâm làng Phai Khắt rẽ trái theo đường ô tô liên xã (Tam Kim - Hoa Thám) khoảng 20 km chúng ta đến di tích Đồn Nà Ngần.

Đồn Nà Ngần thuộc xã Cẩm Lý, nay là xã Hoa Thám (Nguyên Bình), là nơi ghi dấu trận đánh thứ 2 giành thắng lợi của Đội VNTTGPQ (26/12/1944). Đồn Nà Ngần nằm trên một đồi cao, địa thế hiểm trở, từ ngoài vào phải qua mấy thung lũng. Địch chọn nhà của ông Nông Văn Pảo (tức Phó Lý Pảo) làm một đồn lính. Nhà của Phó Lý Pảo là ngôi nhà sàn kiên cố nhất trong bản, có hàng rào kín mấy lớp xung quanh.

Hiện nay ngôi nhà cũ không còn, chỉ còn bãi đất hoang nhân dân sử dụng trồng hoa màu. Địa điểm đồn Nà Ngần đã dựng nhà bia ghi dấu chiến công oanh liệt của Đội.

Di tích Vạ Phá thuộc xóm Bản Um, xã Tam Kim là một thung lũng rộng tương đối bằng phẳng ngay chân đồi Slam Khẩu, phía trước có thể nhìn thấy cánh đồng Bản Um và đường vào khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo, phía sau là đồi Slam Khẩu xuống xã Thượng Ân (Ngân Sơn, Bắc Kạn). Là nơi kín đáo, xa dân. Tại đây Tổng bộ Việt Minh Cao Bằng đã mở lớp huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho toàn tỉnh do các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng phụ trách vào tháng 2/1944. Lớp huấn luyện quân sự là bước chuẩn bị về lực lượng, góp phần tích cực vào việc thành lập Đội VNTTGPQ. Hiện nay, Vạ Phá còn dấu tích lán trại của lớp học quân sự, tại đó vẫn còn những hòn đá cuội để kê chân giường.

Đến với Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo chúng ta không những được tìm hiểu truyền thống lịch sử với nhiều điểm di tích mà còn được khám phá, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của khu rừng nguyên sinh. Nơi đây vẫn giữ được vẻ hoang sơ, khí hậu mát mẻ quanh năm, thu hút hàng ngàn khách du khách trong và ngoài nước đến tham quan di tích lịch sử, thưởng ngoạn thắng cảnh và du lịch sinh thái đầy thú vị và ý nghĩa.

Di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo ngày càng được quan tâm đầu tư tôn tạo và phát huy giá trị. Hiện nay, Bộ Quốc phòng đang tôn tạo một số hạng mục trong khu di tích.

Theo Hoàng Lệ (báo Cao Bằng)
Du lịch, GO!

Lịch sử đăng bài

Powered by Blogger.

Bài đăng mới

Thích thì click!^^

Bải đăng phổ biến