Showing posts with label Tuyến xe - Đường xá. Show all posts
Showing posts with label Tuyến xe - Đường xá. Show all posts

Wednesday, 28 May 2014

Đèo Khuôn Do nằm trên quốc lộ 2C thuộc địa phận hai thôn Khuôn Ráng, xã Phúc Ứng và thôn Vĩnh Sơn, xã Tuân Lộ (Sơn Dương). Đèo dốc và nguy hiểm nhất ở đoạn qua thôn Khuôn Ráng vì mặt đường lởm chởm, bong tróc đầy ổ trâu, ổ gà rất nguy hiểm - Ở đây từng là một điểm đen về tai nạn giao thông.

< Đoạn đèo vừa được hạ thấp.

Từ dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C, đoạn qua địa phận huyện Sơn Dương, Yên Sơn và thành phố Tuyên Quang do Sở Giao thông - Vận tải làm chủ đầu tư thực hiện, đến nay đoạn đèo này đã được mở mới, hạ thấp, giảm bớt độ quanh co nguy hiểm cho người và phương tiện khi tham gia giao thông.

Đèo Khuôn Do có tổng chiều dài khoảng 4 km. Trước đây khi chưa được hạ thấp, các phương tiện ô tô, xe máy đi qua đèo phải mất 15 phút.

Không những thế, đường bị xuống cấp bụi bay mù mịt, nhiều đoạn bị che khuất tầm nhìn tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông rất cao. Vì vậy, đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đáng tiếc trên đoạn đèo này.

Từ khi đèo được nắn cua, hạ thấp độ cao và quanh co, 2 bên đường có hệ thống rãnh thoát nước…, các vụ tai nạn giao thông đã giảm xuống. Đây thực sự là tín hiệu mừng cho người dân  tham gia giao thông.

Đèo Khuôn Do nằm trên Quốc lộ 2C, tuyến giao thông huyết mạch nối Sơn Dương với các địa phương khác như: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và thành phố Tuyên Quang nên lưu lượng người và xe tham gia rất lớn. Việc đèo được cải tạo, nâng cấp không chỉ làm giảm nguy cơ tai nạn giao thông, tăng mỹ quan cho tuyến quốc lộ, mà còn thúc đẩy thông thương, giao lưu trao đổi buôn bán phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Tổng hợp từ Báo Tuyên Quang
Du lịch, GO!

Friday, 9 May 2014

Suối không có tên, dân địa phương thường gọi là suối Mỏ Đá vì nó chảy qua một khu khai thác đá rộng mênh mông. Suối nằm trên đoạn đầu của đoạn quốc lộ Phan Thiết – Di Linh. Nếu theo lộ trình này, chúng ta sẽ bắt gặp suối khi vừa qua khỏi thị trấn Ma Lâm không bao xa. Tại đây có một đoạn đường mòn chạy cặp bên dòng suối.

Đường Phan Thiết – Di Linh cũng chính là QL28, được người Pháp mở ra từ đầu thế kỷ không bao lâu sau sự kiện phát hiện ra Đà Lạt. Tuy nhiên, vì đoạn đường quá hiểm trở, qua nhiều đèo dốc nguy hiểm, nên người ta đã làm đường Phan Rang – Đà Lạt thay thế. Một thời gian dài trong chiến tranh và sau năm 1975, con đường này ít được sử dụng.

Điểm đầu đường này là điểm giao cắt quốc lộ 1A đoạn qua thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; điểm cuối là thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Quốc lộ 28 đi qua thành phố Phan Thiết - thị trấn Ma Lâm (huyện Hàm Thuận Bắc)- thị trấn Di Linh (huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng) - thị trấn Quảng Khê (huyện Đắk Glong )- thị xã Gia Nghĩa. Toàn tuyến dài 197 km, trong đó đoạn thành phố Phan Thiết - thị trấn Di Linh dài 98 km, đoạn thị trấn Di Linh - thị xã Gia Nghĩa dài 99 km.

Quốc lộ 28 có một đoạn trùng với quốc lộ 20 (chừng gần 1 km) ở Di Linh. Trên quốc lộ có nhiều đèo dốc, trong đó đáng chú ý hơn cả là đèo Gia Bắc (đèo Di Linh) ở ranh giới tỉnh Bình Thuận - Lâm Đồng, đèo Quảng Khê. Quốc lộ 28 (đoạn từ Phan Thiết tới Di Linh)chỉ có 1 làn đường khá nhỏ hẹp, đường dốc quanh co, nhiều cua gắt. So với đèo Bảo Lộc hay đèo Prenn thì đèo Gia Bắc nguy hiểm và khó đi hơn nhiều. Đường được rải nhựa toàn tuyến nên xe du lịch 50 chỗ vẫn có thể lưu thông, tuy nhiên nếu 2 xe ngược chiều thì tránh nhau hơi khó.

Chúng tôi đi qua suối trên cuộc hành trình thám hiểm con đường Phan Thiết – Di Linh. Khi đến suối, một cảm giác sợ hãi bao trùm lấy chúng tôi. Quanh suối không một mái nhà không một bóng người, chỉ vài bụi cỏ lơ thơ trên đá. Khung cảnh như ở một sa mạc đá mênh mông. Dòng suối khi đó là mùa mưa, tuôi chảy ào ạt như một cơn hồng thủy đang ập đến, dữ tợn và hung hãn…

Suối không lớn, nhưng đứng trước nó, chúng ta sẽ có cảm giác mình quá bé nhỏ và mềm yếu trước thiên nhiên. Đó là cảm giác độc đáo mà dòng suối mang lại cho chúng ta khi đến với nó. Suối, thời điểm ấy chỉ có nước lạnh như cắt và đá nhọn.

Trong sự yên lắng đến tột cùng của đồi núi, đột ngột, tiếng mìn nổ phá đá từ xa vọng về. Dư âm những tiếng nổ ì ầm, trộn lẫn vào tiếng gào thét của dòng suối tạo nên thứ âm thanh ma quái khó tả. Những bức ảnh mà chúng tôi chụp ở đây, khi rọi ra, cũng mang một thứ sắc màu âm u kỳ lạ. Đến với suối Mỏ Đá, có lẽ không phải là đi tham quan mà đúng ra là đi “phiêu lưu”. Qua cầu sắt bắc ngang dòng suối, chúng ta sẽ tiếp tục cuộc hành trình trên con đường từ Phan Thiết đến Di Linh.

Chúng tôi đã đến Đà Lạt theo con đường này vào năm 1993, vào thời điểm Đà Lạt kỷ niệm 100 năm hình thành và phát triển.

Rời Phan Thiết lúc 6 giờ sáng, bằng xe gắn máy giữa lúc đài phát thanh loan báo là có bão, cuộc hành trình quả là đầy đe dọa đối với chúng tôi. Đoạn đường dài khoảng 100km này có đoạn chỉ còn là lối mòn vừa cho hai người tránh nhau, mà một bên là vực sâu không đáy, có đoạn phải đi xuống lòng suối, có đoạn phải vạch cỏ rậm cao quá đầu người mà đi. Trên bản đồ, dọc theo đường có rất nhiều suối và thác, có một số thác được ghi là lớn nhưng chúng tôi không có thời gian để dừng lại chụp ảnh và ghi chép vì phải đến Di Linh trước khi trời tối và một phần cũng vì sợ cơn bão đang đến.
Ngày nay, con đường nối liền Phan Thiết – Di Linh: QL28 trong đó có đoạn đèo Gia Bắc vẫn đẹp và hoang sơ vô cùng đấy bạn.

Theo Thư Viện Lâm Đồng
Du lịch, GO!

Monday, 5 May 2014

(DLVN) - Có thể nói Ngoạn Mục là một trong những đường đèo đẹp nhất Việt Nam. Chính tên đèo đã phần nào phản ánh được sự hấp dẫn của nó. Đèo dài 18,5km kéo dài từ độ cao 200m đến 980m. Đây cũng là đèo có độ dốc lớn nhất ở các tỉnh phía Nam.

Con đường đèo nối liền 2 tỉnh Lâm Đồng - Ninh Thuận có tên Ngoạn Mục đã có gần trăm năm nay (1917). Trước đây, con đường này là tuyến đường chính từ Nha Trang - Phan Rang sang Đà Lạt và cũng là tuyến đường hấp dẫn những tour du lịch khám phá. Đường đèo  uốn lượn theo triền đồi tạo hình vòng sóng, tầng lớp. Dọc theo đường đèo là rừng cây xanh, thác nước, và những mảng mây trắng. Con đường đèo dốc này chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng ven biển Nam Trung bộ với cao nguyên Đà Lạt bằng sự quyến rũ lãng mạn và hùng vĩ.

Đèo Ngoạn Mục còn gọi là đèo Sông Pha, người Pháp gọi là Belle Vue (Ngoạn Mục) là một trong những đèo đẹp nhất Việt Nam thuộc huyện Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận, men theo những sườn núi dựng nối thung lũng Ninh Sơn với cao nguyên Lang Biang.

Con đường quanh co gấp khúc liên tục. Lên độ cao 400m , bạn sẽ có dịp nhìn lại đoạn đường đã đi qua. Trên đèo Ngoạn Mục có 4 đoạn cua khuỷu tay rất gấp, con đường uốn lượn mềm mại qua những đồi núi, sườn đồi lớn nhỏ khác nhau tạo hình vòng sóng, tạo nên những tầng đường mà nếu có dịp dừng chân trên đỉnh nhìn xuống, dễ thấy vẻ quyến rũ lãng mạn lẫn hùng vĩ của nó.

Từ trên đèo nhìn xuống thấy bờ vực dốc đứng, sâu thẳm, lấp ló qua những rặng thông là con đường ngoằn ngoèo khúc khuỷu với những chiếc ô tô ví như món đồ chơi chậm chạp đang bò lên hay xuống. Xa hơn là đồng bằng Phan Rang với dòng sông Cái uốn lượn. Hai dải núi cao ôm bọc lấy thung lũng Phan Rang chạy ra tận biển. Những ngày đẹp trời, từ trên đèo có thể thấy đường bờ cát trắng và nhấp nhô những con sóng lăn tăn.

Từ đèo Ngoạn Mục du khách có thể thu vào tầm mắt toàn bộ cảnh quang xung quanh được thiên nhiên kiến tạo thành một bức tranh hài hòa, với những suối thác cắt ngang vách núi, những dãy núi đồi với hệ thực vật khá phong phú đa dạng và đặc trưng.

Lên Ngoạn Mục vào buổi sáng bằng xe gắn máy, bạn dễ bị choáng ngợp bởi những cụm mây mịt mù. Lên Ngoạn Mục những chiều đông, có thể đứng ở vực cao ngắm ra khoảng rừng những vách đồi trước mặt, thấy những mảng rừng đổi màu lá xanh, lá đỏ như những bức hoạ tuyệt tác từ thiên nhiên.

Và lên Ngoạn Mục vào những đêm trăng sáng, dễ nhận ra một không gian ảo huyền giữa bao la núi rừng, cái cảm giác cô độc và trơ trọi giữa đất trời hoang lạnh lại khiến ta giật mình vì một tiếng chim đêm... Để rồi, khi đến Eo Gió, bạn thực sự ngỡ ngàng vì chỉ một khúc cua ngoặt khuỷu tay, bạn đã lạc vào một vùng khí hậu khác: bỏ lại sau lưng cái gắt gỏng của nắng Ninh Sơn để chìm vào những đợt gió cao nguyên lạnh buốt. Khoảng phân định hai miền khí hậu ấy chỉ cách mấy bước chân...

Với địa thế khá hiểm, Ngoạn Mục trở thành đoạn đường thú vị cho dân phượt  trên đường từ phố núi Đà Lạt xuôi về duyên hải nắng gió Phan Rang. Nếu đã đi qua nhiều ngọn đèo trên đất Việt, bạn sẽ thấy Ngoạn Mục không còn là một ngọn đèo vô tri mà nó là một thực thể sống động mang lấy nhiều trạng thái. Với nhiều khách lữ hành, hình như mỗi lần đi qua đây, thiên nhiên hoang dã, sự hùng vĩ núi non Ngoạn Mục đem lại nhiều trạng thái cảm giác khác nhau...

Đèo Ngoạn Mục bây giờ vẫn được thi công sửa chữa dù dự án nâng câp đã triển khai từ đầu năm 2009. Toàn bộ tuyến đường đèo dài gần 19km bị cày xới nham nhở, đất đá ngổn ngang, hệ thống biển báo hoen gỉ, vỡ nhiều. Tại các điểm sạt lở, một nửa thân đường đã bị nước cuốn trôi xuống vực, phần đường còn lại chỉ đủ cho 1 xe ô tô "bò" qua. Tại những điểm như vậy, hệ thống lan can chỉ là những cọc gỗ buộc dây ni-lông sơ sài, tạm bợ. Toàn bộ tuyến đèo lầy lội, trơn trượt, người và xe cộ lấm lem bùn đất...

Theo Du lịch VN
Du lịch, GO!

Ngoạn mục đường lên xứ hoa
Khám phá đèo Ngoạn Mục

Wednesday, 30 April 2014

(TTVN) - Khi đến Cao Bằng, chắc chắn không ai bỏ qua khu du lịch Bản Giốc. Và muốn đến được Bản Giốc hùng vĩ, nhất định bạn phải chinh phục được con đèo có cái tên rất ... Cao Bẳng: Khau Liêu.

“Mời anh lên Cao Bằng quê em, lên đèo Khau Liêu qua đèo Mã Phục, vượt qua rừng vầu, xuyên qua rừng trúc, như bầy ong, như bầy chim...”. Đó là, những câu thơ trong bài thơ “Mời anh lên Cao Bằng quê em” của nhà thơ Y Phương đã được phổ thành ca khúc.

Khau Liêu là gọi theo tiếng Tày, có nghĩa là đèo Liêu. Đứng trên cao nhìn xuống, đèo Khau Liêu mềm mại chạy giữa các dãy núi lô nho của Cao Bằng, giống như một con rồng uốn lượn quanh co, ôm lấy núi.

Đây cũng là con đèo thử tay lái của nhiều dân "phượt" muốn chinh phục khó khăn trước thiên nhiên hùng vĩ. Có thể nói đèo Khau Liêu như một nét chấm phá trong bức tranh đồng quê miền núi tuyệt đẹp của vùng Trùng Khánh.

Không nổi tiếng như đèo Mã Phục nằm trước đó, đèo Khau Liêu mang một nét đẹp nên thơ, đầy màu sắc và hài hòa với cảnh sắc thiên nhiên. Bạn sẽ có cảm giác hạnh phúc, vui sướng khi vượt qua được độ cao của đèo Khau Liêu. Đứng trên đỉnh đèo phóng tầm mắt xuống dưới, hít thở không khí thanh khiết của núi rừng, thật sự không còn gì thú vị hơn.

Từ đây, thiên nhiên Cao Bằng hiện ra rõ nét, những con người bên dưới trở nên nhỏ bé. Những cung đường vừa đủ cho hai làn xe ôtô vừa mới đi qua giờ cũng chỉ như những dải lụa uốn lượn quanh núi.

Đèo Khau Liêu không chỉ đi vào thơ ca, không chỉ là niềm cảm hứng để các nhà nhiếp ảnh sáng tác mà còn là một chứng tích lịch sử trong sự kiện biên giới năm 1979. Những cây cỏ, những hòn đá xếp, tấc đất đã thấm đẫm máu và mùi thuốc súng thuở nào.

Từ lâu, Khau Liêu là con đèo nhuốm màu sắc huyền thoại, bởi những câu chuyện kể với nhiều tình tiết dị bản. Là con đèo nối huyện Quảng Uyên và Trùng Khánh, mốc trên đỉnh đèo, phía Đông thuộc huyện Trùng Khánh, phía Tây thuộc đất Quảng Uyên.

Du khách thập phương lên Cao Bằng muốn đi thưởng lãm vẻ đẹp kỳ vĩ của động Ngườm Ngao, thác Bản Giốc, Hang Cô Tiên, Động Ba Se... bằng con đường ngắn nhất đều phải qua Khau Liêu.

Trước kia, khi chưa có đường ôtô, Khau Liêu đã có đường mòn đi tắt, dựng đứng, mà người gánh đi sau mặt chạm chân người lên trước. Người lên xuống dốc đã toát mồ hôi, thở bằng tai, gánh vác càng vất vả muôn phần.

Những người cao tuổi sống ở làng 2 bên đèo kể lại, thuở người Pháp chưa mở đường, rừng cây to vô kể, nhiều hổ báo rình rập, người đi qua đèo phải đeo cái “Pha nam khằng” có 2 dây đeo để xỏ 2 cánh tay vào để tránh làm mồi cho ông Ba Mươi. Pha nam khằng được kết bằng sợi dây vai, buộc nhiều cây “nam khằng” lại với nhau thành một cái gọi là “pha” vừa vặn với lưng người.

Đặc tính của loài hổ là rình rập, vồ và chồm lên phía sau người, thú vật. Khi đeo pha vào hổ không dám vồ từ phía sau. Nếu có con hổ nào đó liều lĩnh vồ người, khi chồm lên, người nhẹ nhàng cúi xuống, co đầu lại, con hổ bị gai nam khằng đâm đau không dám liều vồ cú thứ 2, thứ 3. Loài hổ khi bị đánh đau sẽ vùng chạy vào rừng sâu.


Trong chiến sự năm 1979, đèo Khau Liêu là lá chắn kiên cố, giằng co quyết liệt giữa 2 bên. Đất 2 bên giao thông hào bị cày xới bởi đạn pháo. Mùi thuốc súng, đạn cối nặng nồng.

Trên đỉnh đèo giờ vẫn có tấm bia bằng bê tông ghi “chiến thắng Khau Liêu tháng 2 năm 1979”. Chiến thắng Khau Liêu đã đi vào trang sử của tỉnh Cao Bằng như một chứng tích, một mốc son nhắc nhở thế hệ sau này không được lãng quên.

Trong chiến thuật chiến lược quân sự, con đèo là bản án ngữ, là bức tường thành thiên nhiên kiên cố, dễ phòng thủ, khó tấn công từ hai phía. Chiếm được đỉnh coi như nắm phần chiến thắng. Nhưng trong chiến lược phát triển kinh tế, con đèo đã gây ra sự cản trở về hao mòn máy móc, nguy hiểm đối với các phương tiện tham gia giao thông khi phải leo con đèo quanh co, hiểm trở. Một bên là núi cao chót vót, một bên là vực sâu thăm thẳm. Lưu lượng xe cộ qua lại đèo Khau Liêu cũng không rầm rộ, tấp nập như những con đường huyết mạch quốc gia. Con đèo này cũng đã ghi nhận nhiều vụ tai nạn giao thông gây chết người, thiệt hại về vật chất, tiền bạc.

Trong tương lai đèo Khau Liêu sẽ trở thành đường thẳng băng. Sẽ không còn cảnh đổ xe, ngã vật xuống vệ đường sứt tay, gãy chân nữa. Người làng Bản Khuông và người thông Tả Mèn (xã Quảng Hưng, huyện Quảng Uyên) sẽ nhìn thấy bóng dáng của nhau.

Làng bản thu về trong tầm mắt, người bên này đèo gọi người bên kia đèo nghe thấy. Xe không phải leo dốc hao mòn máy móc, xăng dầu, người không phải gánh vác leo đèo mất sức, toát mồ hôi nữa.

Đèo Khau Liêu sẽ chỉ còn trong trang sách sử để người đời sau biết đến, đèo chỉ còn trong hoài niệm, tâm tưởng của những người đã chứng kiến con đèo với nhiều kỷ niệm, như một chứng tích chiến tranh, khói lửa tràn ngập xóm thôn, đạn pháo khốc liệt thuở nào.

Người làng 2 bên đèo nói chung và người dân 2 huyện Quảng Uyên, Trùng Khánh có quyền lưu nhớ hình ảnh con đèo huyền thoại trong ký ức, cả thời xưa và bây giờ.

Khánh Chi (Thể Thao Việt Nam)
Du lịch, GO!

Tuesday, 29 April 2014

(ANTĐ) - Đèo Khe Nét thuộc huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình là một trong 5 đèo cao nhất trong hệ thống đường sắt quốc gia.

Đêm xuống, con đèo chìm trong bóng tối. Nhưng tại các nhà ga xung quanh cung đường khu vực đèo, ánh sáng điện ban đêm không bao giờ tắt…

< Tàu hàng vào cua tại đèo Khe Nét, Quảng Bình.

Tôi mua vé tàu đêm vào Vinh, rồi chuyển sang tàu chợ, qua khoảng hơn chục ga lớn nhỏ mới đến được ga ở lưng chừng đèo - Ga Khe Nét. Quãng đường có hơn trăm cây số nhưng phải đi mất hơn nửa ngày trời. Nghe nói, ga này được xây dựng vào khoảng năm 1999. Từ ga, đường đến đỉnh đèo Khe Nét chỉ còn khoảng 5km men theo đường tàu hỏa.

Ngoài người tuần đường, người dân được khuyến cáo không nên đi bộ lên đèo vì có thể nguy hiểm đến tính mạng khi gặp tàu hỏa chạy qua. Vậy nhưng vẫn có một con đường nhỏ men theo vách núi để lên tới đỉnh đèo.

Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn, tôi đã liên hệ với lãnh đạo ga Đồng Chuối và Cung trưởng Cung đường Khe Nét. Nguyện vọng đi bộ lên đèo của tôi được chấp thuận với điều kiện, tôi sẽ đi cùng với một cán bộ tuần đường.

Đèo Khe Nét có độ dốc 17° với nhiều khúc cua dốc nên tàu chỉ có thể đi với tốc độ chậm. Do nhiều góc cua hẹp nên đường ray ở đây cũng khá đặc biệt với hai lớp ray cua song song để hộ bánh. Anh Nguyễn Văn Tĩnh - tuần đường của Cung đường Khe Nét liên tục nhắc tôi để ý tiếng còi tàu từ xa hoặc cảm nhận đường ray rung để phát hiện tàu đến. Lúc đầu tôi hơi lo, nhưng có đi bộ trên đường ray mới thấy việc phát hiện tàu từ xa không khó, bởi ở đây rất yên tĩnh, thi thoảng lắm mới nghe tiếng suối róc rách, nên việc phát hiện tiếng còi tàu từ xa không khó khăn.

< Đi cùng cán bộ tuần tàu trên đèo Khe Nét.

Mất chừng 2 giờ đồng hồ đi bộ, tôi gặp một ngôi miếu nằm lẻ loi bên đường. Theo những người dân ở đây kể lại, ngôi miếu rất thiêng thờ Mẫu Thượng Thiên. Thành kính một phút trước ngôi miếu, tôi lại tiếp tục hành trình.

< Ngôi miếu nhỏ trên đèo Khe Nét.

Do đường đèo chỉ để dành cho tàu hỏa nên người đi bộ chỉ còn cách đi trên đường ray. Thi thoảng lắm mới gặp vài người dân bản ngược đèo kiếm củi. Gặp khách lạ, nhưng ai cũng vui vẻ, thân thiện.

Khí hậu Khe Nét khá khắc nghiệt. Mùa rét, cán bộ đường sắt ở đây được trang bị thêm loại áo ấm riêng giống như áo trấn thủ ngày xưa. Còn mùa nóng nhiệt độ có khi lên đến hơn 40 độ C. Thế nên cán bộ ở đây chỉ toàn là đàn ông, bởi phụ nữ không thể chịu nổi thời tiết thất thường và khắc nghiệt này.

< Cảnh vật trên đèo.

Ga Khe Nét nằm lọt thỏm trong rừng, mỗi ngày có khoảng 40 chuyến tàu khách và tàu hàng chạy qua. Số lượng cán bộ công nhân của nhà ga chỉ khoảng 12 người.

Buổi tối ở đèo Khe Nét tĩnh lặng lạ kỳ. Vị khách đặc biệt là tôi bữa đó được mời ở lại dùng cơm với anh em ở cung đường. Bữa cơm đạm bạc, rau rút rừng xào tỏi, đĩa trứng tráng, một âu ớt quả ngâm muối và đĩa mắm muối mặn chát. Ở giữa rừng núi hiểm trở, không có chợ nên công nhân ở đèo chỉ còn biết ăn mắm muối trộn cơm qua ngày.

Theo Bách Hội (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Monday, 28 April 2014

(TQĐT) - Những địa danh của xã Thanh Tương (Nà Hang) như đèo Cổ Yểng, dốc Bản Bung hay đường vào Nà Coóc đều là những địa danh khiến người ta liên tưởng đến việc chinh phục dốc cao, vực thẳm. Chỉ là những con đường có vài cây số thôi nhưng sẽ phải mất ngót nửa ngày mới có thể vượt qua. Ước mong có được con đường bê tông đối với bà con nơi đây đang dần trở thành hiện thực.

Từ mơ ước...

Cách đây hơn 2 năm, con đường mà chúng tôi đi vào Bản Bung cứ ám ảnh mãi trong đầu, như kỷ niệm về một thử thách mà mình đã vượt qua. Chiếc xe máy cứ gầm rú hồng hộc trườn lên, chồm ngược, lao vào những hốc, những tảng đá lởm chởm. Ngồi trên xe mà dây thần kinh chúng tôi căng như dây đàn; lỡ dại, xểnh tay lái theo đà là có thể lao thẳng xuống vực chả ai biết đâu mà tìm. Từ đầu giờ chiều mà tới xâm xẩm tối chúng tôi mới vào tới được Bản Bung.

Men theo con đường đất lầy lội chúng tôi đến nhà ông Nông Văn Năm. Vừa thấy chúng tôi ông Năm ngạc nhiên lắm, ông bảo: “Các nhà báo đi xe máy vào tới tận đây là giỏi lắm đấy! Người Bản Bung chỉ quen đi bộ thôi, đường khó đi mà.

Cũng vì cái đường mà mấy đứa trẻ nhà này chỉ học được hết tiểu học thôi”. Ông Nông Văn Thiên, Bí thư Chi bộ thôn Bản Bung chia sẻ, Bản Bung cách trung tâm xã hơn 7km trong đó có 3km là dốc đá rất khó đi. Từ trước đến nay bà con trong bản giao lưu với bên ngoài hoàn toàn phụ thuộc vào đôi chân. Bản mình là thung lũng bằng phẳng, đất đai rất tốt, thóc ngô được nhiều, bà con cũng tích cực chăn nuôi nhưng phải cái đường vào bản khó đi nên chả mấy khi bán được con lợn, con gà. Bản mình vẫn chủ yếu là tự cấp tự túc thôi. Ước mong bao đời nay đối với người Bản Bung là làm được cái đường mà sức người, sức của có hạn... Anh Nguyễn Văn Thế, thôn Bản Bung từ ngày mua được chiếc xe máy chủ yếu là đi vòng vèo được mấy trăm mét quanh bản. Anh Thế phải gửi xe vào nhà một hộ dân nằm dưới chân đèo muốn đi đâu xa thì phải đi bộ hết quãng đường đèo ra đó lấy xe.

Đến hiện thực

Bẵng một thời gian không có dịp về công tác Thanh Tương, bỗng một hôm chúng tôi nhận được điện thoại của anh bạn đồng nghiệp công tác tại Đài Phát thanh và Truyền hình Nà Hang: “Ông khẩn trương lên Bản Bung viết bài về bà con nơi đây làm đường bê tông đi. Chuyện như cổ tích thời nay đấy”. Chúng tôi đã háo hức trở lại Bản Bung.
Đi hết đoạn đường rải cấp phối trục liên thôn của xã Thanh Tương đến một con suối, dừng lại, ngước nhìn con đường lên Bản Bung trông giống như cái đuôi con rắn thò ra phần đầu cắm vào cánh rừng đại ngàn Tát Kẻ-Bản Bung. Gặp một anh thanh niên cưỡi trên chiếc xe máy trông thật mới, vẫy tại lại hỏi thăm đường lên Bản Bung. Anh chàng này nở nụ cười thật tươi: “Đường vào bản không còn khó lắm đâu, bà con rải bê tông sắp xong rồi. Từ ngày có đường tốt, mình mua xe máy này đấy”. Vậy là cái ước mong bao đời nay của người Bản Bung đã thành hiện thực. Đúng là đường vào Bản Bung không còn khó như trước kia, con đường bê tông rộng 3m rải khá đều, thoải mái mát ga lên dốc.

Ông Triệu Thế Hải, Trưởng thôn Bản Bung cho biết, từ năm 2012 thôn tiếp nhận được chủ trương của Đảng, Nhà nước về hỗ trợ xi măng làm đường. Lúc đó bà con vẫn còn băn khoăn lắm vì công việc chưa bao giờ làm mà chắc chắn là vất vả rồi. Thôn chỉ dám đưa ra kế hoạch làm một đoạn vài trăm mét đoạn khó đi thôi. Làm đường bê tông ở đây, từng bao xi măng, hạt cát, hay một xô nước đều dựa vào đôi chân, đôi vai của người dân. Làm được rồi thì bà con phấn khởi lắm ai nấy cũng đều quyết tâm cao nhưng không thể làm hết ngay được phải làm dần thôi. Ấy vậy mà đến nay bà con đã làm được 2,5km đường, chỉ còn 400m nữa bà con phấn đấu từ nay đến cuối năm sẽ làm nốt.

Việc bà con Bản Bung làm đường bê tông khác xa với việc làm đường ở nhiều nơi khác, đó là công việc trường kỳ kéo dài liên tục từ suốt năm 2012 đến nay.

Nếu đoạn đường dự tính làm 700 m thì thôn ra định mức khoán số mét cho các hộ tính theo nhân khẩu mỗi hộ phải tự đảm nhiệm cung ứng đủ lượng cát sỏi và vận chuyển xi măng và huy động nhân lực làm. Bà con phải xuống tận lòng sông khu vực Nẻ (thị trấn Nà Hang) cách thôn hơn 10 km để khai thác và vận chuyển từ đó về tập kết ở dưới chân đèo. Sau khi tất cả vật liệu tập kết về, bà con sẽ phải cõng, gùi từng bao xi măng, cát sỏi lên đến điểm cần làm.

Chi phí cho việc vận chuyển là rất lớn, từ năm 2012 đến nay bà con đã đóng góp hơn 50 triệu đồng cho việc này, chưa kể có thêm khoản hỗ trợ của Nhà nước. Nếu làm con số cụ thể để tính ra khối lượng bà con đã gùi cõng vật liệu để làm hết con đường này sẽ phải vào khoảng 1.800 m3 vật liệu. Với 42 hộ trong bản thì trung bình mỗi hộ phải gùi cõng trên 40 tấn vật liệu. Đó là chưa kể gần 1.000 ngày công bỏ ra để làm đường. Chiếc xe máy của anh Nguyễn Văn Thế lúc này chứng minh là một công cụ hữu dụng. Trong suốt thời gian dài, anh dùng xe chở từng bao xi măng lên giúp bà con làm đường. Anh Thế hồ hởi chia sẻ, tuy chưa thấm vào đâu những cũng đỡ bà con phần nào. Từ ngày có đường, mình không phải gửi xe nữa rồi, bà con trong bản nhiều nhà đã sắm xe máy rồi đấy. Có đường là bản mình sẽ khá lên, hết nghèo thôi.

Đồng chí Hoàng Văn Hoan, Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Tương cho biết từ khi có chủ trương Nhà nước hỗ trợ xi măng làm đường bê tông nông thôn, cấp ủy chính quyền địa phương xã Thanh Tương cũng đã quan tâm, ưu tiên mọi nguồn vốn của địa phương để hỗ trợ bà con sớm hoàn thành tuyến đường. Trung bình mỗi năm, xã làm được hơn 6 km, dự kiến đến 2015 thì xã sẽ hoàn thành mục tiêu bê tông hóa giao thông nông thôn. Khó khăn nhất như thôn Bản Bung cuối năm nay cũng sẽ hoàn thành, chỉ đáng ngại nhất là đoạn đường vào thôn Nà Coóc. Đây là tuyến đường dài hơn 7 km việc vận chuyển vật liệu khó khăn, nhưng bà con ở đây rất tích cực hiện bà con đã làm được 800 m. Dự kiến trong năm nay sẽ làm thêm được 800 m nữa.

Theo Thanh Phúc (báo Tuyên Quang)
Du lịch, GO!

Saturday, 26 April 2014

(CAND) - Đèo Blao, con đường ngoằn ngoèo như rắn bò vắt ngang qua triền núi đá dài 10km, cũng là đường đèo đẹp và nguy hiểm nhất nằm trên quốc lộ 20. Chỉ cách nhau 10km nhưng ở đỉnh đèo đầy sương mù và tiết trời se lạnh, còn dưới chân đèo nắng nóng chói chang. Gần 100 năm nay con đèo như chiếc hộp đen ghi lại chứng tích một thời. Dọc theo tuyến đèo kỳ vĩ này là miếu thờ, đài tưởng niệm và những nấm mộ hoang ghi dấu sự chết chóc đau buồn. Nơi ấy còn những vong hồn mang khát vọng được sống chập chờn trên núi đá như muốn nhắn nhủ với con người.

Ông Bùi Tho, 70 tuổi là kỹ sư của chế độ cũ, sinh ra và lớn lên tại Blao, tỉnh Lâm Đồng. Ông là người đầu tiên ở sơn nguyên này thi đậu vào trường quốc gia Nông Lâm Mục ở Miền Nam năm 1961. Là một kỹ sư chuyên ngành Thủy Lâm, ông Tho gắn bó với cây rừng dòng suối quê mình như máu thịt. Nếu có ai đến phố núi tìm hiểu về nền văn minh Blao khoảng 100 năm, ông sẽ là người dẫn đi và giới thiệu một cách nhiệt tình không cần đòi hỏi thù lao.

Cách đây một tuần, ông điện thoại bảo tôi cùng đi xuống đèo Bảo Lộc xạ (rải) hạt cây xanh lên triền núi ven đường để vài chục năm sau con cháu có nơi ngồi nghỉ. Trong việc trồng cây gây rừng này, ông tự bỏ tiền túi ra mua hoặc xin hạt giống rồi đi rải không cần sự trợ giúp của chính quyền. Trong thời buổi hiện nay còn có người sống chết với rừng như ông Bùi Tho thực sự quý hiếm, nên tôi phóng xe máy chạy theo ông vừa chụp ảnh vừa tìm hiểu thêm về con đèo và có dịp đến thăm những nấm mộ hoang được người dân địa phương thêu dệt mang sắc mầu âm bản.

Từ một thời cổ sử

< Đèo Blao tháng 12 năm 1993.

Quốc lộ 20 dài 233km bắt đầu từ ngã ba Dầu Giây thuộc tỉnh Đồng Nai và kết thúc tại Đà Lạt. Để lên được thành phố bốn mùa hoa nở này, người và xe phải vượt qua khá nhiều con đèo, trong đó đèo Blao. Đèo Blao hay còn gọi là đèo Bảo Lộc dài 10km, gồm có 108 khúc cua tọa lạc ở cây số 97-107 với độ cao 932m, được thiết kế bám theo triền núi, một bên là núi đá dựng đứng một bên là vực thẳm nhìn muốn rợn người. Vào mùa mưa, những vách đá ven đường mọc đầy hoa thạch thảo (hoa đá) như bức tranh thủy mạc thiên nhiên hút hồn du khách. Đèo Blao với tiết trời se lạnh vừa mang dáng hoang dã vừa kỳ bí, nhất là sáng và chiều dầy đặc sương mù trắng xóa lấp đầy thung lũng, làm cho con người tưởng chừng đang đứng trên cõi hư không.

Lịch sử đèo BLao gắn liền với con đường dẫn đến khu nghỉ dưỡng Đông Dương ở Đà Lạt vào đầu thế kỷ trước tiền thân của quốc lộ 20. Con đường nối liền giữa cao nguyên và đồng bằng này ban đầu rộng 4m trải đá được khởi công vào tháng 11/1926 và hoàn thành ngày 31/5/1927 dưới thời toàn quyền Varenne. Để bảo đảm thông đường trong vòng 8 tháng, công binh Pháp đã sử dụng 400 phu dịch, còn gọi là culi (coolie) làm việc ngày đêm, số lượng culi bao gồm: người Khor, Chror, Mạ, Stiêng và dân phu đồn điền cao su người Kinh.

Trong 200 ngày đêm dùng cuốc xẻng làm đường giữa chốn rừng thiêng nước độc, nhiều dân phu đã bỏ mạng vì bệnh tật, tai nạn hoặc bị thú dữ ăn thịt, xác của họ bị vùi lấp ở dọc đường thành những nấm đất hoang tàn không mộ chí. Một số những người phu ấy, sau này được Việt Minh giác ngộ đã trở thành những tay súng cừ khôi chống lại thực dân Pháp và Phát xít Nhật ngay tại đường đèo Bảo Lộc. Thủ lĩnh KKíu (dân tộc Khor), người có sáng kiến bố phòng trận địa bằng bẫy đá và cây rừng từ trên đồi cao dội xuống là nhân vật điển hình, ông đã đi vào sử sách Nam Tây Nguyên như một huyền thoại.

Sử liệu của địa phương cận đại có ghi lại rằng: Ngày 9/11/1945, Ban Chỉ huy Quân sự Việt Minh ở Nam Trung bộ nhận định quân Nhật sẽ chiếm Đồng Nai Thượng qua đường 20 nên đã điều trung đội Mười Mè và vận động ông KKíu, thủ lĩnh Khor ở Lộc Sơn (Bảo Lộc) trấn giữ đường đèo. Lúc bấy giờ, trung đội chỉ có vài khẩu súng còn chủ yếu là cung tên, giáo mác. Ông KKíu từng là culi làm đèo Bảo Lộc, biết rõ vị trí nguy hiểm ở các tuyến đường cua tay áo. Vì vậy, ông đã vận động bà con dân tộc của mình cùng với bộ đội Mười Mè chất đá và cây rừng buộc trên đỉnh đồi, nơi có thể trực tiếp đổ xuống đường đèo và dùng hệ thống báo động bằng cách buộc các lon sữa bò (cách nhau 100m) kéo dài từ chân đến đầu đèo.

Đúng như nhận định, vào lúc 15h ngày 11/11/1945, người Nhật đưa quân chiếm tỉnh Đồng Nai Thượng. Dẫn đầu là xe bọc thép cùng với 40 xe quân sự chở 300 lính. Đợi quân Nhật vào ổ phục kích, ông Mười Mè ra hiệu lệnh giật lon báo động. Từ trên cao, trận mưa gỗ, đá, lửa và cung tên lao thẳng xuống đường đèo cùng với tiếng reo hò, tạo thành một thế trận hỗn loạn. Trận ấy, nhiều lính Nhật bị tiêu diệt. Tuy nhiên, là một quân đội viễn chinh nhà nghề, quân Nhật đã đánh bọc hậu, trung đội trưởng Mười Mè hy sinh cùng với 20 đồng đội Kinh, Thượng.

Ông KKíu sau này bị Pháp bắt. Họ đã dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ, hăm dọa, nhưng vẫn không mua chuộc được người thủ lĩnh Khor tài trí này. Cuối cùng vào năm 1947, người Pháp đã xử bắn công khai tại Di Linh. Trước pháp trường, ông dõng dạc tuyên bố: “Tao không sợ chết! Tao chết nhưng đồng bào của tao còn sống tiếp tục đánh mày! Tao chết trước, mày sẽ chết sau!”…

Chiến công đường đèo năm 1945, ngoài quyết tâm giành độc lập dân tộc, còn thể hiện tinh thần đoàn kết chung lưng đấu cật giữa hai anh em Kinh - Thượng. Sự kiện ấy lại được tiếp nối trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, năm 1972 nữ anh hùng Lê Thị Pha và hai đồng đội người Khor - Mạ khi chết cùng nằm chung một nấm mồ. Đường đèo còn lưu lại kỳ tích của các nhà tư sản dân tộc ở Miền Nam đã tiếp tế lương thực, thuốc men cho quân giải phóng bằng những chuyến xe tải. Họ đã góp công, góp của vào công cuộc giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước.

Sau năm 1975, đoạn đường đầy cua tay áo này cũng là “nhân chứng”  thời “ ngăn sông cấm chợ”. Vì cơm áo đời thường những cư dân địa phương đã “xé rào” bó trong người vài ký trà, vài ký cà phê đêm đêm len lỏi xuống đường đèo vượt rừng trong bóng tối với gió lạnh buốt xương. Để rồi khi đất nước chuyển sang thời đổi mới cũng những con người ấy lại nhìn thấy trên đường đèo, hàng triệu lượt xe chở đầy hoa tươi, rau quả, trà, cà phê xuống tận miền xuôi. Rồi từ miền hạ chở xi măng, sắt thép… và ánh sáng văn minh lên miền thượng.

Hiệp sĩ đường đèo

Anh Đẩu là bạn tôi, người có ngôi nhà nối dài từ mặt đường 20 ra thung lũng, sống bằng nghề bán cà phê tại đầu đèo heo hút gần 30 năm. Ngồi ở quán cà phê mang hồn của núi này nhìn thấy ngọn cây rừng chao lá dưới chân mình, nhiều lúc sương mù chập chờn phủ lên mặt, ướt cả tóc và lông mi. Những buổi sáng sớm vài ba con sóc gọi bầy đứng chồm dậy trên cây kêu vang vọng cả một góc rừng hoặc đàn khỉ núi chuyền cành nhe răng cách con người 10 mét. Anh Đẩu gần như là người nhận được nhiều thông tin vụ việc gây ra sự cố đường đèo. Nhiều năm sống tại đây, anh cho biết khi có xe máy phân khối lớn của Công an hụ còi chạy xuống là có ít nhất một người tử nạn, nhưng nếu Công an đi xe con kèm theo xe cứu thương của bệnh viện hú còi chạy tốc độ là có người và xe bị lao xuống thung lũng…

Để có thể biết thêm tư liệu sống về các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông đường đèo, chúng tôi ghé thăm nhà anh Đẩu. Ông bạn đầu đèo này là người nghiện trà và nói chuyện bằng tâm thức, anh thích những người từng trải đến nhà để tâm sự cuộc đời phiêu bạt của mình. Anh Đẩu đã hơn ngũ tuần nhưng thân hình mạnh khỏe và gương mặt phúc hậu, đã có lúc anh tự nguyện đi nhặt xương cốt những người vô danh bị chết dưới vực thẳm đem chôn cất không một tí vụ lợi. Vì vậy anh có biệt danh là “Hiệp sĩ đầu đèo”.

Nhân lúc vui vẻ tôi hỏi anh một cách chân tình. “Trong từ điển tiếng Việt, hiệp sĩ là người tài giỏi, dũng cảm đem tâm trí và võ thuật ra giúp người thế cô. Đời người không phải ai cũng có tước hiệu đó. Thế hành động phi thường của anh bắt đầu từ đâu!”. Anh chậc lưỡi trả lời: “Cũng chẳng phải là hiệp sĩ, hiệp sanh gì anh ạ! Tôi đã đi qua một cuộc đời đầy gió bụi, được nhiều người giúp, bây giờ làm thế cũng chỉ để trả ơn đời, đồng thời cũng muốn qua việc làm nhân bản này để giáo dục các con tôi. Vì suy cho cùng, trong đời người nếu sống bằng tâm đức bao giờ cũng bền vững”.

Anh Đẩu nói chuyện từ tốn, ngồi đan hai bàn tay úp vào ly cà phê nóng nhìn những giọt cà phê nhỏ xuống như tìm kiếm sự tinh túy của một đời người. Anh chậm rãi kể: “Tôi định cư ở đầu đèo này khá lâu, chuyện của đèo trong khoảng vài mươi năm gần đây tôi đều biết. Thực ra, sau khi xảy ra tai nạn, bà con thường đến quán tôi ngồi trao đổi bàn tính, phân công nhiệm vụ, đến lúc gặp vấn đề nhạy cảm thấy mọi người yên lặng đưa mắt nhìn nhau, tôi mới xin giúp không kèm theo điều kiện.

Anh biết! thường xác người đã đến giai đoạn thối rữa, người sống vì lý do riêng tư gì đó hay né tránh. Suy cho cùng nạn nhân cũng là con người vô phúc đáng thương. Tôi nhớ một việc xảy ra cách đây khoảng 6 hay 7 năm gì đó. Lúc ấy tử thi là người đàn ông đã chết khá lâu nằm dưới hố thẳm, đầu còn vướng trên cành cây nhưng thân thể đã rơi xuống đất, được các em Khor đi hái măng rừng phát hiện. Vài anh Công an trẻ đu dây xuống hiện trường nhưng gặp phải mùi hôi thối và sương mù dày đặc nên phải trèo lên.

Đèo Blao chắc anh không lạ một bên là núi đá, một bên là hố thẳm sâu hun hút chỉ nhìn đã sợ. Khi có nắng và bớt sương mù chúng tôi mò xuống. Việc đầu tiền là đối mặt với ruồi nhặng, chúng to bằng hạt ngô, màu xanh xẫm bóng lộn bay vù vù từng đàn bám vào cây lá, thậm chí bu bám vào người mình mang theo mùi hôi thối. Trước mặt chúng tôi là một thi thể đã thối rữa, xương hiện ra từng phần. Sau khi Công an chụp ảnh khám nghiệm, chúng tôi thắp nhang khấn vái hương hồn người quá cố xin được chôn cất, rồi túm gọn xác người bỏ vào bọc nylon mang lên đường nhựa.

Nói là đơn giản nhưng khi bắt tay vào việc, người không có thần kinh thép dễ bỏ cuộc vì sợ hãi từ mùi xú uế nồng nặc, đến sự lạnh lẽo huyền bí của núi rừng chưa kể vong hồn của người quá cố. Nhiều lúc chúng tôi đốt nhiều nhang để giảm bớt mùi hôi vừa xin vong hồn trợ giúp khi phát hiện thiếu cái tay hoặc cái chân do loại bò sát kỳ đà tha đi. Chưa hết, còn một hình ảnh khác cũng không kém phần hoảng sợ là hồn vong của người nước ngoài. Họ không phải chết vì tai nạn giao thông mà chết vì cuộc chiến đường đèo. Nếu anh không tin hôm nào 12h trưa, trời không mưa hay không có sương mù, anh đi với tôi để minh chứng có hay không!”.

Anh Đẩu pha thêm tuần trà lần hai chép miệng: “Suy cho cùng vong người nước ngoài cũng là nạn nhân đến giờ vẫn chưa siêu thoát, không biết còn chờ đợi gì! Họ chỉ xuất hiện vào buổi trưa anh ạ! Ngày trước tôi đi nhặt củi khô đã hai lần phát hiện một nhóm quân nhân người nước ngoài đứng trên mỏm đá cao cách tôi vài mét vung tay nói chuyện với nhau, tôi rất chú ý lắng nghe nhưng không hiểu được rồi từ từ họ biến mất. Lúc đầu tôi sợ đến nỗi chạy mất cả dép, mặt cắt không còn giọt máu, những lần sau tôi mua thuốc lá thơm, bánh bích quy, vài lon nước ngọt và hương khói lầm rầm khấn vái. Từ dạo ấy, không biết vì sao mà mãi đến giờ không thấy họ xuất hiện nữa. Anh là người lạ, lại biết tiếng tây, ngày mai đi với tôi xuống đèo, tôi cam đoan sẽ gặp và nói chuyện với họ, họ không làm gì mình đâu vì đó chỉ là vong hồn mà!”. Ông Đẩu ngửa mặt lên trời cười sằng sặc và xác tín với tôi không phải là chuyện đùa.

Những nấm mộ ven đường

Cách đây chừng 20 năm, lúc đèo Blao chưa được tái thiết, dọc theo con đường tử thần này có thể đếm được rất nhiều miếu cô hồn, hầu hết các miếu đều không có tên người. Có những miếu lớn rộng gần 1m, cao 0.7m xây bằng xi măng, có miếu làm bằng gỗ, có miếu ngả nghiêng với những cây nhang rơi vãi nằm chơ vơ trên bờ cỏ dại. Sau này, đường đèo nâng cấp, những ngôi miếu vô danh hay hữu danh cũng đều lần lượt ra đi để nhường chỗ cho con đường mở rộng. Bây giờ chỉ còn vài chục miếu, chủ yếu do thân nhân phục hồi lại để tưởng niệm người thân của mình.

Trước đây, vào thời chiến, những người chết vì tai nạn giao thông nếu không có người nhận được bà con chôn tại ven đường. Sau năm 1975 chính quyền địa phương trích ngân sách đưa những người xấu số về mai táng ở nghĩa địa gần nhất. Dù chôn cất ở đâu, những con người chết vì tai nạn này cũng được liệt kê vào danh sách “chết đường, chết chợ” Đối với người Việt từ ngày xưa cho đến bây giờ, việc từ giã cõi đời như thế là một điều bất hạnh, đôi khi người ta còn dùng cho một câu chửi rủa dành cho hạng người vô gia cư không nghề nghiệp làm điều trái với đạo lý. Thực ra, câu chửi “đồ cái thứ chết đường chết chợ” cũng chưa đúng lắm, vì trong hàng trăm hàng ngàn con người ấy đều có nhà cửa, nghề nghiệp và cũng có nhiều trường hợp khác nhau, không ai muốn ra đi đột ngột mà không có một lời trăng trối.

Để một mình ông kỹ sư Bùi Tho tìm nơi rải hột giống ven triền núi, tôi chạy xe men theo những miếu hoang đốt nhang thì thầm với họ. Nhìn những chiếc miếu vô hồn còn lại nằm trên đường vắng vừa gợi lại đau buồn vừa nhuộm sắc mầu âm bản. Những tai nạn giao thông xảy ra đều do người điều khiển, dù người lái xe lớn hay nhỏ cũng được gọi là “bác tài”. Trong ngôn ngữ dân gian Việt Nam thường xuất hiện thuật ngữ “con, thằng” ví dụ như con ca sĩ này, thằng đánh bạc kia nhưng đối với tài xế người ta gọi là bác tài. Có lẽ con người ủy thác vai trò người tài xế đối với sinh mạng hành khách cao cả hơn cha mình.

Tuy nhiên, tài xế thời nay có nhiều người quá trẻ chưa có nhiều trải nghiệm hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm để bảo vệ hàng chục con người ngồi sau tay lái, chưa nói là uống rượu bia hay những trường hợp học giả bằng thật. Trong xã hội, nếu một bác sĩ “dỏm” một lần xảy ra sự cố chỉ chết một người, còn tài xế là vài chục con người một lúc.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, năm 2012 cả nước có khoảng 7.000 người tử vong vì tai nạn giao thông, mặc dù có giảm so với cùng kỳ năm trước, nhưng đó vẫn là con số gây tổn thương rất lớn về tinh thần và tiền bạc đối với những người thân của họ. Theo Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, Việt Nam đứng thứ 11 trong số các nước có số người tử vong vì tai nạn giao thông lớn nhất thế giới. Trong 10 năm qua, Việt Nam phải chi phí 40.000 tỷ đồng giải quyết hậu quả, tương đương xây dựng 600.000 ngôi nhà tình nghĩa, 10 bệnh viện cấp tỉnh, hơn 1.000 trường học...

Trên mặt bằng quốc gia, ở các quốc lộ, xa lộ, tỉnh lộ, hương lộ… nếu ta lấy mốc thời gian từ Pháp thuộc đến nay thì hầu như nơi nào có đường lộ là có người chết. Cách vài mét, vài chục mét, vài trăm mét, vài cây số là có người vĩnh viễn ở lại đó. Có những chiếc xe đã và đang bị phân hủy nằm sâu dưới vực thẳm giữ chặt hằng chục oan hồn. Ngay tại con đèo 10km này bao năm qua ngành giao thông luôn luôn bảo vệ mặt đường trong tình trạng tốt nhất để giảm bớt tai nạn, mặc dù cách đó vài trăm mét con đường xuống cấp đến mức tồi tệ. Tuy nhiên, tai nạn vẫn không dừng lại, hàng tháng vẫn nghe xe cứu thương và xe Công an rú còi chạy tốc độ về hướng đèo với những đôi mắt đầy lo âu cho đồng loại. Vì nơi ấy máu và thân xác nạn nhân lại tiếp tục bị hất tung xuống vực thẳm không có ngày về, trong đó có những vong hồn uất ức bởi ra đi đột ngột không kịp trăng trối một lời và tiếp theo là những tiếng kêu khóc xé lòng của người thân.

Hiện nay, dọc theo tuyến đường đẹp nhất của quốc lộ 20, cái chết vẫn thường xuyên rình rập, tai nạn vẫn cứ diễn ra hàng tuần hàng tháng, thỉnh thoảng những người thân hay người đi đường vẫn dừng xe bên miếu thờ thắp nén hương tưởng nhớ trong câm lặng. Khi tôi đứng thắp hương tại một ngôi miếu cô hồn, hình như cổ miếu này vài ngày trước đã có người đến viếng nên còn lại một hộp xôi cút đã ngả màu lên mốc xanh rì, vài ba cây nhang ngã xuống nằm chỏng chơ trên cỏ. Hai cháu bé chăn bò đứng đấy dường như chờ đợi trái cây hay bánh trái ở các miếu thờ cho biết “Ngôi miếu này của hai anh chị ở Sài Gòn chạy lên bị xe ben tung chết lâu rồi, ông chủ xe xây miếu cho họ đấy!” Anh Đẩu cho biết những người xấu số đường đèo hầu hết đều là ở các tỉnh, thành khác còn người địa phương đã có ít nhiều kinh nghiệm mà họ là nhân chứng hàng ngày.

Nhân loại đã có “Ngày Thế giới tưởng nhớ các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông”. Nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực khác có ngày để kỷ niệm, để gây ý thức. Riêng ngành giao thông vận tải mới được nhà nước quyết định cho lấy 19/11/2012 làm Ngày tưởng niệm các nạn nhân đầu tiên tại Việt Nam. Đó vừa là thể hiện tính nhân đạo, cảnh báo con người vừa làm ấm lòng cho những oan hồn xấu số.

Quốc lộ 20 tiếp tục chuẩn bị nâng cấp với dự toán hơn mười ngàn tỉ đồng từ nguồn vốn ODA. Đèo Blao sẽ được trở nên đẹp hơn nữa. Ngày đêm có hàng ngàn lượt xe in hình trên kính lõm, hàng triệu con người lên xuống nhìn cảnh mây vờn gió núi hít thở không khí se lạnh của thiên nhiên. Không biết trong họ có ai còn nhớ 400 culi mở đường với những thân hình tiều tụy đói khát nhập nhòa trong khói bụi. Có ai còn nhớ những tiếng reo hò của hai anh em Kinh - Thượng ngày xưa trong cuộc chiến tranh vệ quốc. Và không biết có ai nghe được tiếng thở dài tiếc nuối từ những ngôi miếu hoang để làm bài học cho mình.

Theo Bảo Lộc - Trần Đại (báo Công An Nhân Dân)
Du lịch, GO!

Lịch sử đăng bài

Powered by Blogger.

Bài đăng mới

Thích thì click!^^

Bải đăng phổ biến