Tuesday, 27 May 2014

(PNO) - Tàu du lịch Thăng Long băng băng lướt sóng, đưa chúng tôi xuôi dòng về phía hạ lưu sông Hồng, hai bên bờ sông là phong cảnh đồng quê thanh bình.

Địa điểm đầu tiên tàu cập bến là làng Dầm. Theo con đường làng mát rượi bóng tre, chúng tôi đến thăm đền Dầm, thờ Mẫu Thủy Cung - một trong bốn Thánh Mẫu dân gian. Theo Ngọc Phả của Đền, Mẫu Thủy Cung là công chúa Hoàng Long – con gái Ngọc Hoàng, vì đánh vỡ chén ngọc nên phải đầu thai xuống Thủy Cung làm con gái vua Thủy Tề. Nàng đã hiển linh giúp dân trị bệnh, giúp Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh thắng giặc Nguyên Mông và được vua Trần Nhân Tông sắc phong thần.

Phía sau đền Dầm có một cây thị cổ thụ 500 năm tuổi. Các cụ già trong làng nói rằng, ai muốn duyên may phận đẹp, muốn vợ chồng hạnh phúc, muốn con cái giỏi giang thì chỉ cần sờ vào gốc thị là sẽ được tọai nguyện.

< Cập bến thăm làng gốm Bát Tràng.

Địa điểm tiếp theo là một điểm đến nổi tiếng: “Đền thờ tình yêu”. Bước trên lớp cát mịn mà hàng ngàn năm trước chàng trai nghèo Chữ Đồng Tử đã ẩn mình để rồi được gặp công chúa Tiên Dung, chúng tôi lên thăm ngôi đền ẩn trong những khu vườn nhãn rậm rạp, tiếng ve râm ran như dàn đồng ca đón khách. Cổng đền được chạm khắc công phu, hai bên là hai tháp chuông rêu phong cổ kín.

< Dạo một vòng làng gốm Bát Tràng để quan sát cuộc sống, sinh hoạt đời thường của làng nghề là một trải nghiệm thú vị.

Đền to và tuyệt đẹp, kiến trúc hầu như nguyên vẹn từ năm 1848 khi Chu Mạnh Trinh đỗ tiến sĩ về làng và cho xây dựng lại đền. Hai gian nhà thờ còn nguyên những bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng. Chính giữa đặt tượng thờ Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân: Vợ cả là công chúa Tiên Dung. Người thứ 2, vốn là ân nhân cứu mạng khi chàng gặp nạn trong lúc Tiên Dung về thăm cha. Cảm cái ơn ấy mà công chúa tác thành cho 2 người.

Trở lại tàu, sau khi thưởng thức bữa trưa ngon miệng với những món đặc sản sông Hồng như cá chép chiên xù, gà tơ rô ti, bông bí xào, canh chua cá lóc…, chúng tôi đến thăm chợ gốm Bát Tràng.

Tại đây, thật thú vị khi được tận mắt nhìn ngắm, chọn lựa những sản phẩm ưng ý từ hàng trăm gian hàng: Lộc bình, chén đĩa, đồ trà, đồ trang trí nội thất…, vô cùng tinh xảo và đẹp mắt. Thú vị hơn là tham quan các lò gốm để quan sát các nghệ nhân xoay bàn gốm, vừa nghe họ kể những câu chuyện nghề, về sự thăng trầm của làng nghề …

Theo Giao Thủy (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Lý thú du ngoạn quanh dòng sông hồng
(BBG) - Theo thống kê của các công ty lữ hành, hầu hết du khách đã hủy tour đi Trung Quốc trong tháng 5 giữa bối cảnh có căng thẳng trên Biển Đông do Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Là một trong những công ty có lượng lớn khách đi Trung Quốc, ông Lương Duy Ngân, Giám đốc công ty Newstartour, cho biết sau những diễn biến căng thẳng ở Biển Đông, lượng khách đi nước láng giềng này đã sụt giảm đáng kể. Chỉ trong vài ngày, hàng chục du khách gọi điện đến công ty yêu cầu hủy tour đi Trung Quốc dù lịch khởi hành đã được ấn định.

Những du khách trước đó tìm hiểu tour đi Trung Quốc cũng không tiếp tục có phản hồi. "Họ đưa ra nhiều lý do như lo ngại bất ổn chính trị, không an toàn khi đến Trung Quốc và một phần vì bày tỏ lòng yêu nước", ông Ngân cho hay. Cũng theo ông, hầu hết các khách đặt tour đi trong tháng 5 đã hủy. Trong lịch trình tháng 6, công ty vừa hủy cả một đoàn 33 người đi Bắc Kinh - Thượng Hải dù ngày khởi hành đã được ấn định.

Cùng ý kiến với ông Ngân, ông Nguyễn Công Hoan, giám đốc công ty Red Tour cho hay, số lượng du khách đi Trung Quốc thời gian gần đây không nhiều. Công ty thường tổ chức cho khách đi thăm Bắc Kinh - Thượng Hải - Hàng Châu - Tô Châu nhưng trong tháng 5 chỉ còn một vài người đi vì lý do công việc.

"Hiện nay các tour đi Trung Quốc khởi hành tháng 6 chưa có một khách nào đăng ký", ông Hoan cho hay. Ông này cũng cho biết mặc dù chưa nhận được khuyến cáo nào của các cơ quan chức năng, nhưng số lượng khách hỏi đi tour Trung Quốc mấy ngày nay gần như không có.

Còn đại diện công ty Vietrantour cũng cho biết hiện công ty không có tour nào khởi hành đi Trung Quốc do không có khách. "Mặc dù các tour đi Trung Quốc đã được lên lịch khởi hành, nhưng khách hầu như hủy tour và tẩy chay đi Trung Quốc. Số lượng khách hủy tour đã chuyển sang du lịch các nơi khác như Campuchia, Singapore, Hàn Quốc và Nhật Bản", vị đại diện này cho hay.

Ông Nguyễn Minh Mẫn, Giám đốc truyền thông công ty Vietravel cho biết việc Trung Quốc đặt trái phép giàn khoan tại vùng biển của Việt Nam đã khiến nhiều lượng khách lo lắng. Vietravel có trụ sở ở 3 miền hàng tháng đều có hơn chục tour đi Trung Quốc nhưng lượng khách hủy tour đã ngày càng tăng. Phía công ty mấy ngày gần đây liên tục nhận được điện thoại của khách yêu cầu hủy tour với lý do không muốn sang Trung Quốc trong thời điểm "nhạy cảm" này.

"Hiện tại rất nhiều tour đã chuẩn bị sẵn sàng, vé máy bay, phòng khách sạn, các dịch vụ khác đã được đặt hết. Công ty cũng đang làm việc với phía hàng không, các đối tác để thương lượng, giảm thiệt hại cho khách hàng cũng như phía công ty", ông Mẫn cho hay. Cũng theo ông Mẫn, trong trường hợp khách muốn chuyển sang các tour khác, công ty cũng tạo thuận lợi để chuyển sang các điểm đến thay thế như Hàn Quốc, Nhật Bản với giá tương đương.

Hiện tượng nhiều du khách Việt hủy tour đi thăm Trung Quốc trong tháng 5 và việc không còn nhiều người quan tâm đến thị trường này xảy ra trong bối cảnh Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam từ ngày 1-5.

Trung Quốc còn huy động gần 100 tàu các loại, gồm cả tàu quân sự mang tên lửa và máy bay tuần tiễu để bảo vệ cho giàn khoan đang hạ đặt trái phép trên vùng biển của Việt Nam. Một số tàu cảnh sát biển của Trung Quốc còn hung hăng đâm và bắn vòi rồng, gây hư hại cho các tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư của Việt Nam đang làm nhiệm vụ.

Theo VNE
Du lịch, GO!

Monday, 26 May 2014

(BCT) - Cách trung tâm Hà Nội khoảng 15km, làng nghề truyền thống Sơn Đồng (Hoài Đức - Hà Nội) được biết đến là nơi giữ gìn và phát triển những tinh hoa văn hóa trong nghệ thuật điêu khắc của nước ta.

Xã Sơn Đồng có hơn 1.500 hộ dân, hộ nào cũng có ít nhất một người biết chạm khắc gỗ, sơn mài. Cùng với nghề truyền thống là tạc, chạm, khắc và sơn tô tượng để tạo ra những sản phẩm nổi tiếng trong cả nước như tượng Phật bà nghìn tay, nghìn mắt; tượng ông Thiện, ông ác, tượng các vị La Hán, kiệu bát cống, Sơn Đồng còn có những đồ thờ sơn son thếp vàng chẳng nơi nào sánh được.

Nguyên liệu người làng Sơn Đồng dùng để làm đồ thờ tự thường là gỗ mít, dổi và gỗ vàng tâm.

Những loại gỗ này phải tuân theo đúng quy tắc và chuẩn mực nhất định mới được sử dụng, vì vậy, chất lượng sản phẩm nơi đây luôn được đảm bảo, tuổi thọ luôn lâu hơn những sản phẩm của nơi khác. Riêng gỗ làm tượng phải là gỗ mít: Thân cây mít để tạc tượng, cành nấu xôi, lá cây in oản, không ai dám đem gỗ mít ra để làm giường tủ.

Trong gian xưởng đậm chất tâm linh với  hàng loạt pho tượng lớn nhỏ làm bằng gỗ mít, anh Nguyễn Bá Quý - người đã có 30 năm kinh nghiệm thổi hồn cho gỗ khẳng định:  Làm nghề này không cần “mẫu sinh kề”, vì chúng tôi đã được họa tập từ khi còn trứng nước.

Mới vào nghề phải lấy đất sét luyện với mùn cưa, giấy bạc luyện cho  dẻo để đắp pho tượng, khi thật nhuần nhuyễn hình  ảnh các pho tượng trong đầu rồi mới được học tạc tượng trên gỗ. Phải am hiểu nhà Phật mới làm được tượng có hồn. Bây giờ tôi có thể làm một pho tượng  không cần ảnh, cứ nghĩ trong đầu rồi làm ra thôi”.

Cũng theo anh Quý - thế hệ trẻ bây giờ học nghề có điều kiện thuận lợi hơn nhưng cũng mất 2 năm để thuần thục tay  đục và mất nhiều năm nữa để ngấm vào mình những hồn cốt của tượng phật. Đồ thờ phải đủ ngũ hành: kim - mộc - thủy - hỏa - thổ. Trong đó, kim là yểm vàng trong tượng, mộc là gỗ, thủy là đánh bằng nước cho đẹp, hỏa là dùng đèn khò trong công đoạn chế tác, trước khi hoàn thiện một pho tượng, nghệ nhân phải dùng đất để trát vào, “phi thổ bất thành tượng” là vậy.

Anh Quý cho biết: “ở đâu không biết chứ riêng Sơn Đồng vẫn lưu giữ nghề tạc tượng thủ công, chỉ như thế mới đưa cái tâm của người thợ vào bức tượng. “Mắt chưa nhìn thấy vật nhưng thần tự tay người mà ra” - một câu khái quát nhưng nói lên cái tâm và cái tài của những nghệ nhân làng Sơn Đồng.

Theo Việt Anh (Báo Công Thương)
Du lịch, GO!
(ĐĐK) - Sau nhiều dự định, cuối cùng chúng tôi cũng quyết định "thượng sơn”, trở lại huyện vùng cao Mường Lát trong một buổi sang đầu Đông se sắt lạnh.

Pha Đén là bản cao nhất ở xã Pù Nhi, với độ cao gần 1.500m so với mực nước biển, đây cũng là bản Mông cao nhất ở huyện biên viễn Mường Lát, đồng thời cũng là bản cao nhất của tỉnh Thanh Hoá, chính vì thế Pha Đén được ví như “nóc nhà” của xứ Thanh.

Anh cán bộ phòng văn hóa huyện Nguyễn Thái Việt - người có "thâm niên” tại vùng biên viễn này cho hay: Nếu mới chỉ đi dọc tỉnh lộ 520 và một số bản quanh thị trấn thì chưa thực sự là người hiểu Mường Lát...

Muốn tìm hiểu những đặc trưng và hoàn cảnh sống của đồng bào Mông nơi đây, phải đến với bản Cang, bản Nà Hin của xã Mường Chanh. Cần biết những tập tục gần như còn nguyên vẹn của người Dao, phải về tận các bản Quan Dao, Suối Tút của xã Quang Chiểu... Các bản Hua Pù, Pha Đén của xã Pù Nhi nằm trên cao nhất, song ở đây đang có nhiều đổi thay đáng ghi nhận.

Thượng sơn

Nếu đi dọc tỉnh lộ 520 - sợi dây duy nhất nối Mường Lát với các huyện miền xuôi – một trong những điểm cao nhất của vùng đất này lữ khách phải qua là bản Pù Toong xã Pù Nhi. Nhưng so với Pha Đén, Pù Toong mới chỉ là nơi bắt đầu cuộc hành trình vượt núi. Đứng ở cuối bản Pù Toong, ngước nhìn con đường ngoằn ngoèo ngày một nhỏ dần như vút lên lưng chừng trời khiến lòng tôi không khỏi ái ngại. Đắn đo mãi rồi chúng tôi cũng quyết định "chinh phục” Pha Đén bằng xe máy. Bởi đây đang là đợt nắng hiếm hoi trong tiết giao mùa. "Chỉ đi bằng phương tiện này các bạn mới có thể cảm hết được vẻ đẹp hùng vĩ, sự thân thiện trong ánh mắt của thiên nhiên và con người cũng như những khó khăn mà đồng bào phải vượt qua ở nơi đây” – Việt nhìn tôi cười khích lệ.

Tròng trành qua cầu treo Na Tao của bản cùng tên thuộc xã Pù Nhi, những triền núi cao bắt đầu hiện hữu. Chiếc xe máy phải gồng mình để leo theo con đường vắt ngang qua các sườn núi phủ đầy mây. Hết rú ga rồi sang số, chúng tôi cũng đã vượt qua 3 ngọn núi khá cao thuộc dãy Pha Đén hùng vĩ. Bản "nóc nhà xứ Thanh” hiện ra bồng bềnh trong mây. Hiện Pha Đén chỉ có 67 hộ đồng bào người Mông sinh sống nhưng lại phân bố trải dài theo con đường mòn tới 4,7 km.

Dọc hai bên đường, những người làm lúa nương, người đi lấy nước, chăn thả gia súc vẫy tay cười chào khách. Bản người Mông này luôn có mây mù vây phủ quanh năm. Khí hậu Pha Đén bốn mùa mát mẻ, người dân phải đắp chăn 12 tháng, kể cả đêm Hè. Cái tên của mảnh đất "ngày đến sớm, đêm về muộn” này cũng xuất phát từ thực tế ấy. "Theo ngôn ngữ của người bản địa, "Pha” nghĩa là núi, "Đén” là ở trên trán. Hàm nghĩa là cao, lúc nào cũng phải ngước lên mới thấy được” - một cán bộ huyện Mường Lát giải thích.

Thấy có người lạ, đám trẻ con tỏ ra hơi lạ lẫm rồi lại vô tư nô đùa. Tuy còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, song từ nhiều đời qua, những lớp trẻ ở đây vẫn cứ lớn lên như cây gỗ giữa rừng. Ai có dịp qua bản, cũng được người dân nơi đây coi là thượng khách. Vượt qua quãng đường cuối cùng với những đoạn đường dốc và đá hộc lởm chởm, chúng tôi đã đến được những hộ gia đình nằm xa nhất của bản.

Những đổi thay ở Pha Đén

Do khó khăn về đường đi nên đồng bào ở đây sớm hình thành kiểu làm ăn tự cấp tự túc. Hướng mưu sinh chính của người dân trong bản là trồng lúa nương và ngô rẫy. Trên triền núi cao, những nương ngô vẫn xanh tốt dưới mây chờn vờn bay. Đồng bào ở đây đã biết "ứng dụng” ống luồng làm đường dẫn nước từ các suối nhỏ về nương tạo nguồn "thuỷ nông” nâng cao năng suất lúa. Lợi dụng khí hậu mát mẻ trên cao, bà con trồng nhiều loại rau ưa lạnh làm nguồn thực phẩm. Các loại rau cải, su su, bầu bí nhờ đó vẫn gối lứa để đâm chồi, nảy lộc quanh năm.

Hôm nay bản có khách, Trưởng bản Lâu Văn Sung vừa với tay lấy gói trà Thái được cất kỹ trong hộc bàn ra pha vừa khề khà: "Bản ta trước đây nghèo lắm, lại đẻ nhiều. Bà con quanh năm thiếu thốn không đủ ăn. Nhiều người trẻ còn nghiện thuốc phiện không làm được gì nên càng cơ cực. Gần đây bà con được cán bộ phổ biến và cấp giống trồng ngô lai hai vụ, các chú bộ đội tuyên truyền phải chăn nuôi nhiều bò, chăm sóc rừng nên đời sống ngày càng khá giả. Dân bản cám ơn Đảng, cám ơn chính quyền nhiều lắm!”. Được biết chi bộ đảng nơi đây đã phát triển tới 18 đảng viên. Qua chi bộ, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đi vào cuộc sống.

Từ năm 2000, trường Tiểu học Pù Nhi đã mở được khu lẻ tại đây nên cảnh thất học được đẩy lùi. Đến nay, gần như 100% số em trong độ tuổi đều được vận động đến trường. Tính đến thời điểm hiện tại, Pha Đén có gần 20 học sinh đang học cấp II, hơn 10 học sinh đang trọ học THPT trên thị trấn.

Không như một số bản xa của Mường Lát, người Mông ở Pha Đén hoàn toàn có quyền tự hào bởi trong bản đã có nhiều người làm cán bộ. Ông Lâu Minh Pó, Trưởng ban Tổ chức Huyện uỷ Mường Lát cũng là người con của bản này. Lớp kế cận thì có anh Lầu Mai Dơ, hiện đang là Phó Bí thư Huyện đoàn Mường Lát. Hàng chục học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường ấy đang góp phần nâng cao tỷ lệ số người biết đọc, biết viết tiếng phổ thông của bản. Từ đó, chắc chắn sẽ đẩy mạnh sự giao lưu văn hoá, đưa nhiều cách làm ăn mới và hiệu quả về cho bản làng.

Tuy chưa có điện lưới quốc gia, song nhiều hộ dân đã biết lợi dụng nguồn thuỷ năng ven suối để đặt các máy thuỷ điện mi ni phục vụ sinh hoạt hàng ngày. Nhờ thế, 30% số hộ trong bản đã được dùng điện. Nhiều gia đình đã mua được xe máy. Giờ đây, các gia đình ra trung tâm xã mua sắm đồ, giao lưu thường xuyên chứ không phải vài tháng một lần như trước kia.

Muốn tìm gặp một gương làm kinh tế giỏi, chúng tôi được giới thiệu đến gia đình thanh niên Chá Văn Dơ. Trong bản, Dơ được coi là trí thức và là người có tư duy đổi mới. Anh đã tốt nghiệp THPT từ 2005, sau đó vào quân đội. Hết nghĩa vụ quân sự, anh quyết định về quê tìm cách làm giàu trên chính mảnh đất nghèo chôn rau cắt rốn của mình. Tiếp cận nhiều cái mới, tư duy dám nghĩ dám làm, Dơ đã nhận chăm sóc rừng cho Nhà nước, chăn nuôi bò, dê theo hướng hàng hoá. Đến nay, đàn bò của anh đã phát triển lên đến 9 con, mỗi năm, từ bán bò và các hoạt động làm kinh tế khác cũng cho thu nhập cả chục triệu đồng. Nhờ sự đột phá trong phương cách làm ăn, cái đói, cái nghèo đã lùi xa 4 nhân khẩu trong gia đình anh.

Trong bản, Chá Văn Dơ cũng chính là người tích cực tuyên truyền cho dân bản xoá bỏ các hủ tục, sống theo lối sống mới. Hiện tại, Dơ đang là đảng viên dự bị của xã Pù Nhi. Tâm sự với chúng tôi, Dơ cho biết: "Trình độ dân trí của bà con đang dần được nâng cao. Gần như không còn tình trạng cúng bái đuổi ma tà mỗi khi có người ốm. Nếu có bệnh, đồng bào đã biết xuống trung tâm xã mua thuốc Kinh (thuốc Tây - PV) để chữa trị”.

Sau khi thăm bản, những tưởng tượng trước đây trong tôi về một miền sơn cước lạc hậu, khốn khổ đã không còn. Hình ảnh một thanh niên chạy theo phóng viên xuống đầu bản, nhất định tặng một quả dưa Mông khiến chúng tôi cảm động và thấy ấm lòng.

Ở nơi núi cao và nguyên sơ ấy, tình người như được tôn ở vị trí tối thượng. Tuy còn nhiều vất vả, song tình cảm chân thành và tinh thần vươn lên trong cuộc sống của họ lúc nào cũng dạt dào như mây gió trời xanh vậy. Thật vui khi một con đường lớn lên bản đang được mở bởi "Dự án ổn định đời sống và sản xuất vùng đồng bào Mông huyện Mường Lát”. Tuy chưa xong nhưng xe tải nhỏ đã lên được đến đầu bản. Đây chính là dấu mốc quan trọng để bà con có thể bán ngô, bò, dê, lợn cỏ... mà không bị ép giá như trước kia. Thế giao lưu đang rộng mở hơn bao giờ hết. Pha Đén chắc chắn sẽ đổi thay theo từng ngày...

Theo Nguyễn Chung (Đại Đoàn Kết)
Du lịch, GO!
(DVO) - Khi sương đã vãn, lại chưa có mưa rừng, lũ suối, lúa trên ruộng bậc thang chưa chín, hoa chưa đâm bông, chúng tôi tìm về những ngôi làng nhỏ bình lặng, nơi có dòng suối nhỏ réo rắt mạnh nước suốt 4 mùa trong vắt.

< Suối ở Tú Lệ.

Bên những vườn cải, vườn hành xanh tốt, bản Thái thanh khiết và bình yên hiện dần trong tia nắng sớm, ẩn chứa biết bao nét văn hóa độc đáo và ý vị.

Ít ai nghĩ, đồng bào Thái cư ngụ vùng Tây Bắc với vạn trùng núi cao chót vót, sương mùa mờ mịt, lạnh cóng, quanh năm phải nằm đệm bông lau lại là những người gần suối nhất.

Nếu như các dòng sông lớn đã làm nên những bãi bồi trù phú để rồi đình, chùa, các điệu hát, lễ hội của văn minh lúa nước xuất hiện thì những dòng suối nhỏ này cũng đủ sinh thành nên các bản Thái với mái nhà sàn thanh cao, kiều diễm, những piêu (khăn piêu: khăn đội đầu), tin xỉn (cạp váy) đẹp như bức vẽ dân gian. Sâu thẳm hơn nữa là tráng ca Chương Han – áng sử thi oai hùng chẳng kém thần thoại, sử thi của một nền văn minh nào.

Trời sáng rõ thì cũng là lúc chúng tôi xuống xe đi bộ vào bản. Con đường đất mềm mượt cỏ xanh đẫm hơi sương như càng êm ả mỗi khi gặp một người dân thân thiện nở nụ cười mặc dù chưa một lần gặp mặt.

Vừa đi, anh bạn dẫn đường vừa huơ tay kể: Đồng bào Thái vùng Tây Bắc gắn bó với các dòng suối lắm. Bởi thế mà trong lễ hội cầu mát hàng năm, trai, gái sau khi đi té nước khắp trong bản, lại ra suối gác đuốc bên lèn đá và té nước vào nhau nhe thể tượng trưng cho quan niệm vạn vật nhất thể khi coi con người cũng như cây cối.

Nhìn về phía những ngôi nhà sàn có gác sàn cao từ phía xa, chúng tôi không vội đường đột tới ngay mà muốn đi vòng để ngắm nghía một chút. Giờ đến gần, cảm nhận được mùi đất ẩm nồng nàn, được hơi nước suối mát chúng tôi mới nhận ra, những con suối nhỏ đổ về các bản vùng Chiềng Ly, Bản Pó đất Thuận Châu (Sơn La) này đều là cái nguyên cớ để khởi đầu cho những ngôi nhà sàn kia quần tụ.

Những vườn rau nằm cách bờ xuối chẳng bao xa, luôn xanh nõn bởi được bú mớm mạch nước mát. Những thưở ruộng xanh thắm bảng lảng cánh cò như thể một cách đồng miền xuôi mà những ai lần đầu lên đây sẽ không thể tin trên độ cao hơn ngàn thước so với mực nước biển lại bằng phẳng như thế.

Thêm một quãng đường ngắn, chúng tôi lên đến khu bản mà bà con quần cư. Cũng như người Việt dưới xuôi, nơi ở của người Thái thường không xa điểm canh tác là bao. Những ống tre luồng to và dài nhất được cắt gọt thành ống để những người phụ nữ gùi nước lên đổ đầy các ang dưới chân cầu thanh để khách rửa chân trước khi lên sàn. Ở đây suối đã xa, nhưng điều làm chúng tôi bất ngờ là trong câu chuyện với chủ nhà, những gì gắn với những dòng nước xanh mát triết xuất từ núi rừng ấy lại vẫn còn tiếp diễn.

Trên sàn, người Thái trồng những giò hành hoa xanh bắt mắt. Khác với thứ hành củ lụi khi hết mùa, hành hoa ở đây ra lá bẹ và trổ hoa khá lạ mắt. Bởi tiết trời còn xe lạnh, ngồi trên những chiếc gối lót bằng vải thô nhồi bông lau, thơm mùi chàm, nghe chủ nhà giảng giải chúng tôi mới hiểu: mùi thơm không tự một hóa chất nào mà chính từ hương thơm của chàm quện với nước suối trong mát. Ở đây, tất thảy những gì bình dị nhất như mài con dao cho sắc trước khi di rừng, rửa cái cuốc cho sạch sau khi đã cùng người lấm lem bụi đất trên nương, ngâm sợi vải…cho đến trưa Ba mươi Tết, những người phụ nữ Thái trong bản lại ra suối gội đầu theo một nghi thức cổ truyền đều ra với suối, trình diện với dòng suối thiêng liêng và gần gùi ấy.

Nói về văn hóa người Thái còn rất nhiều, kể cả khi ta chỉ nhắc đến những gì liên quan đến các dòng suối. Nhìn ánh mắt chúng tôi hướng theo những dòng xa tăm tắp, hứa hẹn những bản xa, chủ nhà gắp vào bát con cá suối nướng và bảo: Dòng suối tuy không lớn lao, kì vĩ như dòng sông Đà, sông Mã của vùng Tây Bắc này, nhưng lại mang những nét riêng của từng vùng miền.

Trong ngữ hệ Tày-Thái, suối được gọi là nậm. Có những nậm lớn như sông như Nậm Rốm, Nậm Na. Nhưng, đa phần chỉ là những dòng suối nhỏ mang tên gọi, bản sắc của từng vùng nhỏ. Nơi ấy đâu chỉ nơi cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt, tưới tiêu, nơi đánh cá mà còn là bến đợi, là điểm hẹn để trai gái gặp gỡ, trao duyên.

Những mùa lũ lớn, suối có thể gầm gào tuôn nước lớn từ thượng ngàn về, nhưng mùa khô, suối hiền hòa và sâu lắng đủ khiến người già ngồi soi mái tóc trắng sau hồi ức về kí ức của bản mương. Rơi đất Thuận Châu, đất Thái cổ với bao trầm tích văn hóa, tạm biệt những dòng suối nơi đây, nhưng sẽ còn gặp lại những dòng suối có thể có tên, không tên nhưng đầy ý nghĩa văn hóa ở vùng Tây Bắc này.

Theo Bùi Việt Phương (Dân Việt)
Du lịch, GO!
(PNO) - Theo chân đoàn Farmtrip “kỳ thú Trị An, ngạc nhiên Phan Thiết” do Lửa Việt Tours tổ chức, chúng tôi may mắn được “mục sở thị” ngôi chùa cổ nhất miền Trung cùng bộ kinh Pháp Hoa có một không hai.

< Chánh điện chùa Phật Quang - Phan Thiết.

Tương truyền, chùa Phật Quang có tên gốc là Bồ Đề, thuộc thôn An Hòa, tổng Vạn Phước, huyện An Phước, phủ Bình Thuận, nay là đường Trần Quang Khải, P. Hưng Long, TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Chùa được xây cách đây hơn 320 năm.

Sau khi về trụ trì chùa Phật Quang, sư Thích Huệ Tánh đã cho xây dựng chính điện mới ở phía trước ngôi chùa cổ. Chùa Phật Quang mang vẻ uy nghi, tĩnh lặng, hoa văn chạm trổ ở tiền sảnh, bao lam, nóc, mái chùa có màu sắc tươi sáng, tượng Phật Di Lặc nụ cười hoan hỉ tọa ngay giữa chính sân…khiến du khách đến viếng chùa cảm thấy tươi vui, nhẹ nhàng. Chùa có hẳn một khu nhà nghỉ khang trang dành cho các đệ tử và khách thập phương, gian phòng nhỏ cạnh chính điện chùa cổ là nơi nghỉ ngơi dành cho sư trụ trì.

Khách đến viếng chùa ngoài giao tiếp với sư trụ trì thân thiện, hài hước còn thích thú xem những bảng tin được treo ở các bức tường phía sau và bên hông chánh điện.

Mỗi mùa xuân, sư Thích Huệ Tánh đều cho thực hiện một bảng tin chào năm mới và đúc kết hoạt động của năm đã qua của chùa bằng nhiều bài thơ của các vĩ nhân, những người bạn, của khách đến thăm chùa và của chính sư trụ trì. Khách viếng chùa như lắng lòng với những áng thơ về cõi nhân sinh, vạn vật, thời gian…

Cả đoàn tiếp tục theo chân sư trụ trì tham quan ngôi chính điện và nghe kể về lịch sử của ngôi chùa cùng bộ kinh. Theo sư Thích Huệ Tánh, tháng 11/1987, khi đang quét dọn sân chùa, nhà sư cùng các đệ tử vô tình phát hiện ra bên dưới sân chùa cổ (nay là chính điện của chùa mới) một căn hầm.

Thầy trò vui mừng khôn xiết vì tìm được trong hầm một kho báu vô giá. Đó là bộ kinh Pháp Hoa được khắc trên gỗ thị đỏ, loại gỗ hiếm chỉ phát triển được ở vùng Bình Thuận, Ninh Thuận.

Bộ kinh Pháp Hoa được khắc ngược bằng chữ Hán trên 118 tấm gỗ, mỗi tấm dày 4cm, dài 80cm, rộng 35cm, trong đó 110 tấm chữ và 8 tấm khắc tranh về cuộc đời của Đức Phật. Điều kinh ngạc là bộ kinh Pháp Hoa với hơn 60.000 chữ đều được khắc hoàn toàn bằng đôi tay tài hoa của ba vị thiền sư Pháp Không, Thiện Huệ, Bảo Hương cùng 12 đệ tử trong suốt 28 năm ròng rã (từ năm 1704 - 1732).

Được biết, bộ kinh tại chùa Phật Quang là một trong ba bộ kinh Pháp Hoa cổ nhất trên thế giới tính đến nay. Hai bộ khác ở Trung Quốc được khắc trên chất liệu đá và chất liệu đồng hiện đã bị phong hóa, mục nát, thất thoát nên nội dung chỉ còn được khoảng 20-30%.

Riêng bộ kinh Pháp Hoa trên gỗ thị đỏ tại chùa Phật Quang vẫn nguyên vẹn gần như 100%. Hơn 300 năm tuổi đời, từng tấm gỗ khắc kinh vẫn vuông vức, sắc cạnh. Màu gỗ chuyển sang nâu đen bóng, từng nét chữ, nét vẽ đều tinh xảo.

Ngoài bộ kinh Phật khắc bằng gỗ đầy đủ và cổ xưa nhất được ghi vào kỷ lục guiness Việt Nam, chùa Phật Quang còn có hai kỷ lục khác là chuông Gia Trì và cặp mõ Gia Trì làm bằng gỗ lớn nhất Việt Nam. Được biết, cặp mõ Gia Trì cao 80cm, ngang 92cm, được làm bằng gỗ mít Quảng Bình, do 3 thợ Quảng Nam thực hiện từ 1977 - 2004. Chuông Gia Trì do thợ Quảng Nam thực hiện, cao 1m, đường kính 1,2m, nặng 400kg.

Theo An Hà (báo Phụ Nữ)
Du lịch, GO!

Sunday, 25 May 2014

(Vnexpress) - Miếng bánh tráng mỏng gói bên trong là nhân tôm vừa mới chiên, thêm một chút rau mầm, vài sợi xoài chua đem chấm vào bát nước mắm tỏi ớt đậm vị, làm nên món ăn dân dã ngon đến bất ngờ của miền đất võ Bình Định.

Thú vị ngay từ cái tên, bánh xèo tôm nhảy từ lâu đã trở thành thức quà riêng có của quê hương Bình Định, đặc biệt là khu ven biển thành phố Quy Nhơn. Những người sành ăn thường rủ nhau mỗi cuối tuần tìm về tận nơi khởi nguồn ở thôn Mỹ Cang, huyện Tuy Phước (cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km) để thưởng thức trọn vẹn nhất hương vị của món ăn này.

Điều hấp dẫn và đặc biệt nhất đối với những người lần đầu tiên thưởng thức bánh xèo tôm nhảy là nhân bánh chỉ độc một mình tôm. Mỗi cái bánh vàng ươm ra lò có chừng 7 đến 8 con tôm tròn mẩy, chín đỏ au nổi lên trên mặt bánh trông đầy hấp dẫn và lôi cuốn. Có lẽ chính những con tôm đất tươi rói được bắt ở đầm Thị Nại hay sông Gò Bồi vào mỗi buổi sáng sớm dùng để làm bánh ấy khiến cho người ta liên tưởng đến món bánh với tên gọi nghe vui tai như vậy. Loại tôm này nhỏ, nhưng chắc và thơm thịt, khi chín sẽ đỏ au, ăn vào thấy ngọt bùi đến lạ.

Gạo làm bánh được người làm kỳ công lựa chọn rất cẩn thận. Đó là thứ gạo thơm ở cánh đồng khu Đông, sau khi ngâm qua đêm cùng chút muối cho bớt chua sẽ được xay cùng bột nghệ và một chút nước cốt dừa. Nếu xay thủ công bằng cối đá bột sẽ càng dai, mềm mịn và ngon hơn.

Để chiếc bánh được thơm ngon, giòn đều, người ta thường chiên trên bếp củi, dùng miếng mỡ chài xoa đều một lớp mỏng lên mặt chảo, khi lớp mỡ nóng già mới đổ bột bánh vào, nhanh tay cho tôm và rắc vài mầm giá đỗ, hành lá xắt khúc rải lên trên cho thêm phần hấp dẫn. Chỉ chừng 3 phút sau, bánh đã tỏa mùi hương thơm lựng đầy mời gọi. Đến khi mặt dưới của chiếc bánh vàng giòn, viền bánh co lại và giá đỗ tái đi là có thể đem ra dùng nóng.

Người dân Tuy Phước thường ăn kèm rau mầm với bánh xèo tôm nhảy cho bớt ngán. Loại rau xanh mươn mướt ấy ăn hơi the cay nhưng rất mát và bổ, cùng với xoài chua thái sợi và vài thứ rau sống khác. Khi ăn, tất cả được cuộn trong miếng bánh tráng chấm mắm tỏi ớt nữa mới đúng điệu. Người thích vị đậm hơn còn ăn kèm với vài tép tỏi tươi đến từ vùng Lý Sơn, để hương vị càng thêm nồng đượm.

Bánh xèo tôm nhảy rau mầm rất dễ ăn, chiều lòng được cả những vị khó tính nhất bởi cái chất dân dã quyện hòa và hương vị thanh mát, thơm ngon không dễ gì quên được.

Theo Lê Thương (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Lịch sử đăng bài

Powered by Blogger.

Bài đăng mới

Thích thì click!^^

Bải đăng phổ biến